Suy teo tinh hoàn (Testicular atrophy)
Mô tả: Teo tinh hoàn nhỏ hơn so với kích thước bình thường. Thể tích trung bình của tinh hoàn trưởng thành được cho là khoảng 18,6 ± 4,8 mL. Tinh hoàn thường được đo bằng cách sử dụng một ống đo hình cầu dục – theo phương pháp này, hầu hết nam giới trưởng thành có thể tích >15 mL/tinh hoàn. Với bệnh nhân nằm ngang, một tay đặt lên hố chậu, tay kia đặt lên phía trước góc costophrenic. Tay dưới 'ballots' (từ tiếng Pháp 'để tung lên') thận lên trên. Thận được ballot nếu cảm nhận được bằng tay trước khi thực hiện động tác này.
Nguyên nhân: • Nổi bật: Trauma, Xơ gan gan, Varicocele • Nhẹ nhàng: Klinefelter's syndrome, Prader-Willi syndrome, Giảm hoạt động tuyến cận giáp, Infection, Sử dụng chất tăng cường sinh lực • Nổi bật: Bệnh thận đa nang • Nhẹ nhàng: U tế bào thận, Wilm's tumor, Amyloidosis, Lymphoma, Obstruction ống ureter – Hydronephrosis
Cơ chế: 70-80% thể tích tinh hoàn được cấu tạo bởi ống dẫn tinh, do đó bất kỳ tổn thương hoặc rối loạn nào liên quan đến những ống này có thể gây ra suy teo. Phát triển bình thường của tinh hoàn yêu cầu lưu lượng máu đủ và lượng hormon kích thích rụng trứng và hormon nội mạc phù hợp. Suy teo tinh hoàn có thể do thiếu máu, trauma, thiếu kích thích hormon (bất thường hoặc thứ phát) hoặc dị tật gen nguyên phát. Klinefelter's syndrome (47XXY): Trong Klinefelter's syndrome, một dị tật gen dẫn đến việc có thêm một nhiễm sắc thể X. Là một phần của syndrome này, khi hormon gonadotropin (LH và FSH) tăng lên trong tuổi dậy thì, ống dẫn tinh fibrosis và thu nhỏ và có thể bị tiêu diệt. Do đó, thể tích tinh hoàn giảm. Tại sao điều này xảy ra vẫn chưa rõ ràng. Prader-Willi syndrome: Một dị tật gen trên nhiễm sắc thể 15 dẫn đến sản xuất giảm GnRH, gây ra mức độ thấp hoặc thay đổi FSHLH và ít kích thích cho tinh hoàn sản xuất testosterone và tinh trùng. Kết quả từ 'under-utilisation', tinh hoàn teo. Sử dụng chất tăng cường sinh lực: Steroid ngoại vi gây ức chế trục hypothalamic, đặc biệt là sản xuất LH, và do đó ức chế sản xuất testosterone, cuối cùng dẫn đến suy teo. Varicocele: Varicocele gây ra chức năng bất thường và trong một số trường hợp suy teo thông qua nhiều yếu tố bao gồm nhiệt độ scrotum tăng, lưu lượng máu thay đổi, căng thẳng oxy hóa tăng và sản xuất testosterone giảm. Xơ gan gan: Gan bị tổn thương không thể phân hủy vàrogen, điều này có nghĩa là có nhiều androgen hơn để chuyển đổi ngoại vi thành estrogen. Gan cũng không thể phân hủy vàrogen tự nhiên được sản xuất. Nồng độ cao của estrogen gây giảm testosterone và tinh trùng sản xuất và giảm kích thước ống dẫn tinh, dẫn đến suy teo tinh hoàn. Alcohol: Alcohol gây suy teo tinh hoàn thông qua cơ chế trực tiếp và gián tiếp. • Trực tiếp: alcohol và một số sản phẩm phân giải của nó độc hại đối với tế bào Leydig và giảm sinh tinh. • Gián tiếp: alcohol có thể ức chế chức năng trục hypothalamic và pituitary. Các nghiên cứu đã chỉ ra mức độ LH giảm với sử dụng alcohol. Enlarged kidney, từ mọi nguyên nhân (ví dụ: u, amyloid xâm nhập hoặc sự phát triển cystic bất thường), gần hơn với tường trước bụng và do đó dễ hơn để chạm vào khi đẩy lên.
Ý nghĩa lâm sàng: Mặc dù là dấu hiệu không đặc hiệu, nếu suy teo tinh hoàn có mặt, các xét nghiệm cho các triệu chứng, dấu hiệu và nguyên nhân khác nhau nên được tiến hành. Kidney ballotable 510 Kidney ballotable Có ít hoặc không có bằng chứng về giá trị của kidney ballotable. Tổng quát, chúng hiếm khi có thể chạm thấy, nhưng nếu có, cần phải tiến hành xét nghiệm. Tuy nhiên, một kidney không ballotable không loại trừ bệnh lý ở thận.