Bệnh võng mạc đái tháo đường (Diabetic retinopathy)
Mô tả: Bệnh võng mạc đái tháo đường là một thuật ngữ chung được sử dụng để mô tả một số thay đổi đặc trưng ở mắt trong bối cảnh bệnh đái tháo đường. Một số thuật ngữ và nguyên nhân có thể trùng lặp với bệnh võng mạc tăng huyết áp và có chung cơ chế bệnh sinh cuối cùng. Xem ‘Bệnh võng mạc tăng huyết áp’ trong Chương 3, ‘Các dấu hiệu tim mạch’. Nói chung, bệnh võng mạc đái tháo đường có thể được phân loại thành các thể như trình bày trong Bảng 7.1.
Nguyên nhân:
- Đái tháo đường
- Bệnh võng mạc tăng huyết áp cũng có thể biểu hiện những thay đổi tương tự. Phù hoàng điểm có thể được điều trị thành công trong hầu hết các trường hợp để ngăn ngừa mù lòa, do đó việc sàng lọc và phát hiện dấu hiệu lâm sàng trong mọi bối cảnh là rất cần thiết.
- Những thay đổi liên quan đến bệnh võng mạc đái tháo đường được ghi nhận ở:
- Hầu hết bệnh nhân mắc đái tháo đường type 1 trong 20 năm.
- 80% bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2 trong 20 năm.
- Sau 10 năm, bệnh võng mạc tăng sinh được ghi nhận ở 50% bệnh nhân đái tháo đường type 133 và 10% bệnh nhân đái tháo đường type 232.
- Các yếu tố khác: Thay đổi tính thấm thành mạch, thiếu máu cục bộ và thiếu oxy, tăng đường huyết mạn tính, Sorbitol, Tuổi, Viêm, Vi huyết khối, Yếu tố tăng trưởng.
Cơ chế: Cơ chế bệnh sinh đằng sau những thay đổi trong bệnh võng mạc đái tháo đường rất phức tạp và cho đến nay vẫn chưa được giải thích đầy đủ. Tăng đường huyết mạn tính được cho là yếu tố chính dẫn đến bệnh võng mạc đái tháo đường30, bằng cách khởi phát một loạt các thay đổi mà cuối cùng dẫn đến hai tình trạng bệnh lý chính:
- Thay đổi tính thấm thành mạch – mạch máu bị tổn thương hoặc rò rỉ.
- Thiếu máu cục bộ võng mạc kèm theo tân mạch hóa.
Những thay đổi này liên quan đến các thể bệnh võng mạc đái tháo đường gây đe dọa thị lực ở hoàng điểm và bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh. Tất nhiên, có nhiều quá trình bệnh lý bổ sung khác cũng góp phần vào sự phát triển của hai tình trạng này. Bảng 7.2 trình bày một số thành phần chính.
Bảng 7.1 Các thay đổi trong bệnh võng mạc đái tháo đường
- Bệnh võng mạc không tăng sinh:
- Đốm bông: Sưng do thiếu máu cục bộ của lớp sợi thần kinh gây ra hình ảnh trắng, tròn hoặc dạng mảng.
- Xuất huyết dạng chấm và đốm: Các chấm đỏ lớn hơn với bờ rõ ràng (chấm) hoặc không rõ ràng (đốm).
- Xuất tiết cứng: Lipid lắng đọng trong võng mạc tạo ra các cặn màu trắng hoặc vàng nhạt với vẻ ngoài sáp.
- Vi phình mạch: Các chấm đỏ tròn rõ ràng.
- Bệnh võng mạc tăng sinh:
- Tân mạch hóa: Xuất phát từ đĩa thị hoặc mạch máu.
- Phù hoàng điểm: Dày và phù nề liên quan đến hoàng điểm (có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào của bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh hoặc không tăng sinh).
Bảng 7.2 Cơ chế và các tác động góp phần vào bệnh võng mạc đái tháo đường
Cơ chế đề xuất | Tác động
TĂNG ĐƯỜNG HUYẾT MẠN TÍNH
- Tăng đường huyết làm suy giảm khả năng tự điều hòa lưu lượng máu võng mạc31 – gây tăng lưu lượng, dẫn đến lực cắt (shear stress) lên mạch máu võng mạc. Điều này dẫn đến giải phóng các chất vận mạch, gây rò rỉ mạch máu và phù hoàng điểm.
- Góp phần vào sản xuất sorbitol – xem bên dưới.
SORBITOL
- Sorbitol được hình thành trong quá trình chuyển hóa glucose. Sorbitol dư thừa có thể gây tổn thương thẩm thấu cho tế bào và làm thay đổi các protein khác – dẫn đến thay đổi tính thấm thành mạch.
SẢN PHẨM GLYCAT HÓA CUỐI CÙNG TIÊN TIẾN (AGEs)
- Glucose dư thừa... (nội dung bị rút ngắn)