|
|||||||||
ĐẶC ĐIỂM BỘ MÁY TIÊU HÓA TRẺ EM(Trở về mục nội dung gốc: ) |
||||||
|
thước thực quản để tham khảo khi đặt ống thông: <2 tháng: 0,8-0,9cm đường kính. 2-6tháng: 0,9-1,2 cm, 9-18 tháng: 1,2-1,5cm; 2-6tuổi: 1,3-1,7cm. Chiều dài = 1/5 chiều dài cơ thể +6,3cm. Dạ dày: Dạ dày sơ sinh nằm ngang, dung tích; 30-25ml; 150 mEq/l lúc 3 tháng, 250 mEq/l lúc 1 tuổi. Dạ dày sơ sinh cứng đã có những nhu động như người lớn. Thời gian sữa mẹ ở dạ dày là 2giờ đến 2 giờ 30 phút, đối với sữa bò là 3-4 giờ. Ruột: Tỉ lệ chiều dài ruột/ chiều cao ở trẻ em lớn hơn người lớn. Manh tràng ngắn và di động nên dễ bị xoắn do màng treo ruột đóng ở vị trí bất thường. Van hồi manh tràng có tác dụng chống trào ngược cá chất từ đại tràng vào ruột non , nếu không có van này, trẻ rất dễ bị nhiễm trùng đường tiêu hóa. Trực tràng có tổ chức mỡ lỏng lẻo nên dễ bị sa khi bị lỵ, ho gà.
Lúc mới sanh, ruột gần như vô khuẩn Từ ngày thứ 3 sau sinh, mức độ vi trùng đường ruột phát triển đáng kể. Số lượng và chủng loại vi khuẩn tùy thuộc vào vị trí ống tiêu hóa, vào chế độ ăn là chủ yếu, vào môi trường ngoài và độ trưởng thành của trẻ sơ sinh. Dạ dày luôn là vô trùng, ở ruột non lượng vi khuẩn thường <104/mEq/l. Sau van Bauhin, lượng vi khuẩn có thể tăng 1010 -1011/mEq/l. Trẻ bú mẹ có nhiều Bifidus; B lactis acrogenes; Bệnh acidophilus. Trong khi đó trẻ bú sữa bò có nhiều E.coli.Enterococci Trẻ nằm viện lâu cũng có nguy cơ có có những enterobacteries kháng thuốc ở ruột. Trẻ đẻ non có nhiều vi khuẩn gây bệnh ở ruột hơn vi khuẩn không gây bệnh. Vai trò của vi khuẩn chí ruột: nếu vi khuẩn chí đa số là Bifido bacteria sẽ có nhiều thuận lợi: - giúp trẻ giảm mắc các bệnh dị ứng : chàm sữa, hen, dịứng thức ăn…. - giảm tỉ suấtmắc các bệnh nhiễm trùng đường ruột nhờ tạo nên môi trường sinh lý chống lại vi khuẩn gây bệnh. - Vi khuẩn ở ruột tham gia tổng hợp vitamine K, B Phân: Phân su có từ tháng thứ 4 bào thai, chỉ bài tiết 1-2 ngày sau sinh. Nếu có ngạt lúc sinh có thể có phân su trong nước ối. Phân trẻ bú mẹ có chua, vàng sệt, 4-5 lần/ngày. Phân trẻ bú sữa bò đặc có khuôn, mùi thối, lượng nhiều nhưng số lần ít hơn.
Ở dạ dày: Sự bài tiết acid ngay sau sinh hàm lượng tính theo Eq/kg/h chỉ bằng ½ trẻ 2 tuổi, sau 2 tuổi bằng người lớn. (o,19-0,42mEg/kg/h). Tuy nhiên cũng đủ tiêu hóa lượng sữa đưa vào cơ thể. Trẻ đẻ nnon trước 32 tuàn bài tiết acid kem hơn. Yếu tố nội tại giúp hấp thu vitamine B12 được bài tiết đủ và sớm ngay sau sinh. Cùng với acid, Pepsine cũng bài tiết kém hơn trẻ lớn và người lớn nhưng cũng đủ tiêu hóa sữa bú vào. Ở tụy: Từ tam cá nguyệt thứ 3 của thai kỳ, mới bắt đầu có hoạt động của tụy ngoại tiết, nhưng rất yếu, chỉ bằng ½ lúc sinh. Trong tuần đầu ở trẻ đủ tháng và non 34 tuần, tụy bài tiết 0,5ml/kg/h, đạt 0,9ml/kg/h lúc 1 tháng. Ở trẻ lớn: 3-5ml/kg/h. Chất lượng dịch tụy cũng thay đổi theo tuổi. Men a amylase:Không có lúc mới sinh và trong vài tuần đầu nên trẻ sơ sinh không tiêu hóa được tính bột. Bắt đầu tăng từ 6 tháng và chỉ hoàn chỉnh sau 3 tuổi. Men lipase: Rất thấp trong giai đoạn sau sinh, nhất là trẻ đẻ non. Tăng dần khi trẻ lớn và hoàn thiện sau 3 tuổi. Tuy nhiên trẻ sơ sinh có khả năng hấp thu 90-96% lượng chất béo trong thức ăn. Mức độ hấp thu chất béo còn tùy thuộc loại thức ăn. Chất béo trong sữa mẹ được hấp thu tốt hơn sữa bò và sữa mẹ cũng có lipase, cùng 1 phần trong dịch vị.Trẻ bú sữa bò chỉ hấp thu khoảng 60% chất béo trong tuần đầu; 80% ở tuần 2; 85% lúc 3 tháng. Có thể dẫn đến suy dinh dưỡng, rối loạn hấp thu nếu không được điều chỉnh kịp thời.
Không có men trypsin lúc mới sinh, và rất ít trước 2 tuổi. Protides trong thức ăn được tiêu hóa chủ yếu nhờ dịch vị và các men ruột. Ở ruột: Lactase: Bài tiết được từ trong bào thai, đạt giá trị cực đại gần lúc sinh. Ở trẻ đẻ non trong vài ngày đầu có thể có kém tiêu hóa lactose, nhưng sau đó sẽ hồi phục. Hơn 40% năng lượng trong sữa mẹ là do lactose cung cấp. Peptidase ruột non: Giúp hấp thu gần như toàn bộ lượng albumine đưa vào. Khả năng hấp thu Cascine kém hơn: 6g/ngày ở trẻ sơ sinh; 20g/ngày ở trẻ 5 tháng. Ở gan: Muối mật và acid mật bắt đầu được bài tiết từ tuần 22, tuy vậy chức năng của nó kém trong 2-3 tuần đầu sau sinh.
Ngay sau sinh, niêm mạc đường tiêu hóa đang từ vô trùng phải tiếp xúc với các mầm khuẩn nên cần phải có 1 hàng rào bảo vệ đủ giúp trẻ chống lại sự phát triển và xâm lấn của vi trùng. Yếu tố ngoại lai: sữa mẹ. Bảng 2: các chất trong sữa mẹ giúp bảo vệ niêm mạc tiêu hóa:
Yếu tố nội tại: Hệ thống miễn dịch tại chỗ của ruột chỉ thật sự hoàn thiện sau 12 tuổi. Chủ yếu nhờ sự phát triển của hệ bạch huyết nằm trong mảng Peyer, hạch mạc treo và các tế bào lympho ở ruột.
NUỐT : có từ tuần thứ 34
TRỚ là hiện tượng sinh lý ở trẻ < 18 tháng ( xem phần sau) KHÁM BỤNG - Trẻ < 12 th có thể sờ thấy bờ dưới gan khỏang 2 cm dưới bờ sườn mềm không đau do thành bụng mõng.
Trào ngược dạ dày- thực quản
Táo bón
|
||||||
Kien thuc nhanh
|