Với việc nhanh chóng xác định được thể lâm sàng đặc trưng của bệnh nhân, chúng ta có thể dễ dàng định hướng đến các nguyên nhân gây bệnh tương ứng. Cần lưu ý rằng có thể có sự phối hợp đồng thời của nhiều nguyên nhân và nhiều thể lâm sàng khác nhau trên cùng một bệnh nhân, đặc biệt là ở người cao tuổi.
Bảng 3.1: Một số nguyên nhân gây run thường gặp trên lâm sàng1
Bệnh lý |
Mô tả đặc điểm lâm sàng |
|
Run vô căn |
Biểu hiện bằng run tư thế và run động tác (kinetic tremor) ở cẳng tay hoặc bàn tay, thường đối xứng hai bên (tần số từ 4–12 Hz). Có thể kèm theo run vùng đầu đơn độc mà không có biểu hiện của rối loạn trương lực cơ. Không đi kèm các dấu hiệu thần kinh khu trú khác hoặc tiền sử chấn thương, tổn thương não trước đó. |
|
Run sinh lý tăng cường |
Là tình trạng tăng biên độ của run sinh lý bình thường (tần số cao từ 8–12 Hz), thường xuất hiện do các yế́u tố kích thích cụ thể như lo âu, mệt mỏi, cường giáp, hạ đường huyết, hoặc do sử dụng thuốc/chất kích thích (caffeine, thuốc cường giao cảm). |
|
Bệnh Parkinson |
Điển hình là run khi nghỉ, đôi khi phối hợp với run tư thế hoặc run động tác. Run ở chân thường gặp hơn so với run vô căn; hiếm khi gây run vùng đầu đơn độc (thường ảnh hưởng vùng cằm, môi). Tần số run đặc trưng từ 4–6 Hz. |
|
Run tư thế đứng |
Run xuất hiện ở vùng thân hoặc chân khi đứng yên, giảm hoặc biến mất khi đi lại hoặc ngồi xuống; có thể kèm theo run nhẹ ở tay. Tần số run rất cao (từ 13–18 Hz), có tính chất đồng bộ ở các nhóm cơ hai bên. |
|
Bệnh lý tiểu não |
Run chủ ý (intention tremor) hoặc run động tác, đôi khi kèm run tư thế (tần số thấp < 5 Hz, thường từ 3–4 Hz). Thường đi kèm với hội chứng tiểu não như thất điều (ataxia), rối loạn liên động (dysdiadochokinesia) và rối loạn đo tầm (dysmetria). |
|
Run do bệnh lý thần kinh ngoại biên |
Đặc điểm và tần số rất đa dạng, thường là run tư thế hoặc run động tác ở ngọn chi bị ảnh hưởng. Thường kèm theo các dấu hiệu khác của bệnh lý thần kinh ngoại biên (yế́u cơ, giảm cảm giác, giảm phản xạ gân xương). |
|
Run trung não |
Phối hợp nhiều thể run bao gồm run khi nghỉ, run tư thế và run chủ ý với tần số thấp (thường < 4.5 Hz, khoảng 2–5 Hz). Thường đi kèm với các dấu hiệu tổn thương thân não, tiểu não hoặc các nhân xám trung ương. |
|
RJ, E. (2000). Diagnostic criteria for essential tremor and differential diagnosis. Neurology. 54: S2.2 |
|