|
Lưu ý về thuật ngữ: Trong tài liệu này, cần phân biệt rõ 'thở khò khè' (stridor) và 'thở rít' (wheezing). 'Thở khò khè' là âm thanh the thé, có âm sắc cao, xuất hiện chủ yếu ở thì hít vào, đặc trưng cho tắc nghẽn đường hô hấp trên (ví dụ: thanh quản, khí quản). 'Thở rít' là âm thanh rít, có âm sắc cao, giống tiếng huýt sáo, xuất hiện chủ yếu ở thì thở ra, đặc trưng cho tắc nghẽn đường hô hấp dưới (ví dụ: phế quản). Cả hai đều là dấu hiệu quan trọng nhưng không đặc hiệu, đòi hỏi chẩn đoán chính xác vị trí và nguyên nhân để có chiến lược xử trí phù hợp.
Hen suyễn:
- Điều trị đợt cấp: Thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn (SABA) như Salbutamol hoặc Terbutaline. Corticosteroid toàn thân (dạng uống hoặc tiêm) được chỉ định trong đợt cấp từ trung bình đến nặng. Liệu pháp oxy được chỉ định nếu có tình trạng giảm oxy máu (SpO2 < 90-92%). Có thể cân nhắc bổ sung thuốc kháng cholinergic tác dụng ngắn (SAMA), ví dụ Ipratropium bromide, trong các trường hợp đợt cấp nặng.
- Điều trị duy trì: Corticosteroid dạng hít (ICS) là liệu pháp nền tảng trong điều trị kiểm soát hen. Có thể phối hợp với thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài (LABA), thuốc kháng leukotriene, thuốc kháng muscarinic tác dụng kéo dài (LAMA) hoặc sinh phẩm (biologics) đối với các trường hợp hen nặng không được kiểm soát tốt. Bệnh nhân cần tránh các yếu tố khởi phát, tuân thủ kế hoạch hành động hen và tiêm vắc-xin cúm, phế cầu.
COPD:
- Cai thuốc lá là biện pháp can thiệp cốt lõi và quan trọng nhất.
- Thuốc giãn phế quản (SABA, LABA, SAMA, LAMA) là liệu pháp nền tảng trong điều trị triệu chứng.
- ICS có thể được chỉ định trong một số trường hợp cụ thể (ví dụ: có tiền sử đợt cấp thường xuyên và/hoặc tăng bạch cầu ái toan máu), thường phối hợp với LABA và/hoặc LAMA.
- Phục hồi chức năng hô hấp và liệu pháp oxy dài hạn tại nhà (được chỉ định nếu có suy hô hấp mạn tính và giảm oxy máu).
- Kháng sinh và corticosteroid toàn thân được sử dụng trong điều trị đợt cấp.
- Tiêm vắc-xin phòng cúm, phế cầu, ho gà và COVID-19.
- Thuốc ức chế phosphodiesterase-4 (ví dụ Roflumilast) có thể được cân nhắc cho bệnh nhân COPD nặng có viêm phế quản mạn tính và tiền sử đợt cấp thường xuyên.
- Kháng sinh macrolide dài hạn (ví dụ Azithromycin) có thể được cân nhắc ở một số bệnh nhân có đợt cấp tái phát, đặc biệt là những người không hút thuốc.
Viêm tiểu phế quản (Trẻ em):
- Điều trị chủ yếu là hỗ trợ: Đảm bảo đủ dịch và dinh dưỡng, hút thông mũi (nếu cần), liệu pháp oxy nếu SpO2 giảm (<90-92%). Cần theo dõi sát tình trạng hô hấp.
- Thuốc giãn phế quản thường không hiệu quả và không được khuyến cáo sử dụng thường quy, trừ khi có bằng chứng rõ ràng về co thắt phế quản (tình trạng hiếm gặp).
- Nước muối ưu trương khí dung có thể được cân nhắc sử dụng ở trẻ nhập viện, đặc biệt là trẻ lớn hơn.
- Dự phòng bằng Palivizumab được chỉ định cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ cao (ví dụ: sinh non dưới 29 tuần, bệnh tim bẩm sinh nặng, bệnh phổi mạn tính) trong mùa dịch RSV.
Viêm thanh khí phế quản (Croup - Trẻ em):
- Thể nhẹ: Điều trị tại nhà, bao gồm không khí ẩm mát hoặc tắm nước nóng tạo hơi nước. Cần theo dõi sát các dấu hiệu nặng lên.
- Thể trung bình/nặng: Corticosteroid (Dexamethasone uống liều duy nhất hoặc Budesonide khí dung). Adrenaline (epinephrine) khí dung được chỉ định trong trường hợp nặng hoặc có tắc nghẽn đường thở đáng kể. Liệu pháp oxy nếu cần. Đảm bảo đủ dịch và dinh dưỡng.
Hít phải dị vật:
- Xử trí cấp cứu: Thực hiện thủ thuật Heimlich nếu có tắc nghẽn đường thở hoàn toàn ở người lớn và trẻ lớn (hoặc vỗ lưng, ấn ngực cho trẻ sơ sinh/nhỏ).
- Nội soi phế quản ống cứng hoặc ống mềm được chỉ định để gắp dị vật. Đây là phương pháp chẩn đoán xác định và điều trị dứt điểm hiệu quả.
Phản ứng dị ứng/Sốc phản vệ:
- Adrenaline (Epinephrine) tiêm bắp là thuốc cấp cứu hàng đầu trong sốc phản vệ và cần được sử dụng ngay lập tức, có thể lặp lại liều nếu cần.
- Thuốc kháng histamin và corticosteroid là các thuốc hỗ trợ, không có tác dụng thay thế Adrenaline và không nên trì hoãn việc sử dụng Adrenaline.
- Tránh tiếp xúc với dị nguyên đã biết.
- Hồi sức dịch truyền tĩnh mạch nếu có tụt huyết áp. Liệu pháp oxy. Thuốc giãn phế quản (ví dụ Salbutamol khí dung) nếu có co thắt phế quản. Cần kê đơn bút tiêm Adrenaline tự động (EpiPen) và hướng dẫn sử dụng cho bệnh nhân có nguy cơ.
Hen tim:
- Điều trị suy tim cấp: Sử dụng thuốc lợi tiểu (ví dụ Furosemide), thuốc giãn mạch (ví dụ Nitroglycerin), liệu pháp oxy, hỗ trợ hô hấp không xâm lấn (NIPPV) hoặc xâm lấn nếu cần thiết.
- Điều trị nguyên nhân gây suy tim và tối ưu hóa các thuốc điều trị suy tim mạn tính (ACEI/ARB, chẹn beta, kháng Aldosterone, SGLT2i, Vericiguat, Ivabradine...) sau khi tình trạng cấp tính đã ổn định.
Rối loạn chức năng dây thanh âm (VCD):
- Liệu pháp ngôn ngữ trị liệu (Speech-Language Pathology) nhằm kiểm soát hơi thở và cải thiện chức năng dây thanh.
- Điều trị các yếu tố đi kèm và yếu tố khởi phát (ví dụ: GERD, viêm mũi xoang, lo âu, căng thẳng).
- Giáo dục bệnh nhân về tình trạng bệnh, các kỹ thuật thở thư giãn và chiến lược tự quản lý bệnh.
U đường thở:
- Phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, can thiệp nội soi (ví dụ: đặt stent, đốt laser, áp lạnh, điện đông...) được lựa chọn tùy thuộc vào loại u, vị trí và giai đoạn bệnh.
- Điều trị đích, liệu pháp miễn dịch và chăm sóc giảm nhẹ toàn diện.
|