Che giấu phân bổ (Allocation concealment)
Kỹ thuật được sử dụng để ngăn ngừa sai lệch lựa chọn bằng cách che giấu chuỗi/trình tự phân bổ ngẫu nhiên để những người chịu trách nhiệm phân bổ đối tượng nghiên cứu vào các nhóm can thiệp/đối chứng không biết đối tượng tiếp theo sẽ được nhận can thiệp nào.
Che giấu phân bổ không nên bị nhầm lẫn với làm mù (blinding). Che giấu phân bổ hướng tới giảm sai số chọn, bảo vệ trình tự/chuỗi phân bổ ngẫu nhiên trước khi tiến hành phân bổ. Che giấu phân bổ luôn có thể được tiến hành thành công. Ngược lại, làm mù hướng tới việc ngăn chặn sai số nhận định (ascertainment bias*), bảo vệ trình tự/chuỗi phân bổ sau khi phân bổ diễn ra, và không phải luôn luôn có thể thực hiện được. Nghiên cứu không áp dụng làm mù (unblined trials) vẫn có thể áp dụng che dấu phân bổ.
Phân cấp hoặc thuê một bên thứ ba tiến hành phân bổ điều trị được ưa chuộng. Rất nhiều cách tiếp cận tốt để che giấu phân bổ có sự tham gia của các bên thứ ba nằm ngoài nhóm nghiên cứu. Sử dụng một nhà thuốc hoặc hệ thống quay số điện thoại ngẫu nhiên là hai kỹ thuật phổ biến.
Ví dụ: Những người phụ nữ tham gia thử nghiệm được phân vào nhóm sử dụng vitamin A, E và nhóm sử dụng giả dược. Họ sẽ ở trong nhóm đã được phân bổ trong suốt quá trình mang thai (nếu họ vẫn tiếp tục tham gia thử nghiệm). Một danh sách phân bổ ngẫu nhiên tạo bởi máy tính sẽ được nhà thống kê tạo ra… và đưa cho khoa dược. Các nghiên cứu viên chịu trách nhiểm tuyển chọn người vào nghiên cứu từ khoa siêu âm hoặc khám trước sinh. Mỗi phụ nữ tham gia nghiên cứu sẽ nhận thuốc trực tiếp từ khoa dược. Trình tự phân bổ ngẫu nhiên sẽ được tiết lộ với các nhà nghiên cứu sau khi việc tuyển chọn, thu thập số liệu và phân tích trong phòng thí nghiệm đã hoàn thành.