Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ISSN 2815-6366 Truy cập mở Phản biện kín hai chiều
Biểu trưng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Nghiên cứu đặc điểm cắt lớp vi tính trong đánh giá xâm lấn màng phổi tạng ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch
Pham Ngoc Thach Medical and Pharmaceutical Journal · ISSN 2815-6366
PDF

Từ khóa

Xâm lấn màng phổi tạng
dấu hiệu con sứa
dấu hiệu đa dải màng phổi
diện tích bề mặt tiếp xúc

Cách trích dẫn

Nghiên cứu đặc điểm cắt lớp vi tính trong đánh giá xâm lấn màng phổi tạng ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ. (2026). Tạp Chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch, 5(1). https://bsgdtphcm.vn/ojs/index.php/pnt/article/view/268

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm khoảng 88,5% các trường hợp ung thư phổi nguyên phát và là nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư trên phạm vi toàn cầu. Việc phân giai đoạn ung thư theo hệ thống TNM ảnh hưởng đến chẩn đoán, kế hoạch điều trị và tiên lượng bệnh. Xâm lấn màng phổi tạng là một trong những yếu tố quan trọng trong hệ thống phân loại TNM phiên bản thứ tám, đồng thời đã được công nhận là một chỉ số quan trọng trong tiên lượng ở bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ. Vì vậy, đánh giá xâm lấn màng phổi tạng trước phẫu thuật là quan trọng để xác định chiến lược điều trị cho bệnh nhân. Cắt lớp vi tính là phương tiện hình ảnh học giúp sàng lọc và chẩn đoán sớm ung thư phổi, một số đặc điểm trên cắt lớp vi tính gợi ý xâm lấn màng phổi tạng, đồng thời đánh giá được khá chính xác các giai đoạn phát triển của bệnh. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh xâm lấn màng phổi tạng trên cắt lớp vi tính ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ và xác định mối tương quan của đặc điểm này với kết quả phẫu thuật. Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu được thiết kế theo kiểu hồi cứu, mô tả cắt ngang gồm 83 trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ, trong đó 37 trường hợp không có xâm lấn màng phổi và 46 trường hợp có xâm lấn màng phổi dựa trên kết quả phẫu thuật và giải phẫu bệnh, được chụp cắt lớp vi tính trước khi phẫu thuật cắt u phổi từ tháng 01/2022 đến hết tháng 04/2025, tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả: Trong 83 trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ, có 79 nốt đặc và 4 nốt bán đặc. Có 46 nốt tiếp giáp màng phổi và 37 nốt kèm đuôi màng phổi. Xâm lấn màng phổi tạng thường gặp hơn ở nốt tiếp giáp màng phổi so với nốt kèm đuôi màng phổi (73,9% so với 26,1%, p < 0,001). Trong phân tích đơn biến, diện tích bề mặt tiếp xúc của khối u (OR = 1,03; KTC 95%: 1,0002 – 1,07; p = 0,049), chiều dài tiếp xúc màng phổi dài nhất của khối u (OR = 1,07; KTC 95%: 1,01 – 1,14; p = 0,028), tỷ lệ chiều dài tiếp xúc màng phổi trên kích thước (OR = 1,05; KTC 95%: 1,01 – 1,09; p = 0,01), dấu hiệu con sứa (OR = 48,33; KTC 95%: 4,15 – 562,42; p = 0,002) là các yếu tố tiên lượng cho xâm lấn màng phổi tạng. Trong phân tích đa biến, diện tích bề mặt tiếp xúc của khối u (OR = 1,09; KTC 95%: 1,003 – 1,18; p = 0,042), dấu hiệu con sứa (OR = 22,83; KTC 95%: 2,32 – 224,29; p = 0,007), dấu hiệu đa dải màng phổi (OR = 9,32; KTC 95%: 1,15 – 75,90; p = 0,037) là các yếu tố tiên lượng độc lập cho xâm lấn màng phổi tạng. Kết luận: Ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ, các dấu hiệu trên cắt lớp vi tính giúp đánh giá xâm lấn màng phổi tạng là dấu hiệu con sứa, diện tích bề mặt tiếp xúc của khối u, chiều dài tiếp xúc màng phổi dài nhất của khối u, tỷ lệ chiều dài tiếp xúc màng phổi trên kích thước (đối với nốt tiếp giáp màng phổi), và dấu hiệu đa dải màng phổi (đối với nốt kèm đuôi màng phổi). Abstract Background: Non-small cell lung cancer (NSCLC) accounts for approximately 88.5% of primary lung cancers and is the leading cause of cancer-related mortality worldwide. The staging of cancer according to the TNM system influences diagnosis, treatment planning, and prognosis. Visceral pleural invasion is one of the important factors in the eighth edition of the TNM classification system, and it has also been recognized as a critical prognostic indicator in patients with non-small cell lung cancer. Therefore, preoperative evaluation of visceral pleural invasion is essential for determining the treatment strategy for patients. Computed tomography is an imaging modality that facilitates screening and early diagnosis of lung cancer. Certain features observed on CT suggest visceral pleural invasion and allow reasonably accurate assessment of the disease stages. Objectives: Describe the CT imaging features of visceral pleural invasion in patients with non-small cell lung cancer and determine the correlation of these features with surgical outcomes. Methods: A retrospective cross-sectional study. We performed a review of 83 patients with NSCLC, including 37 cases without VPI and 46 cases with VPI, confirmed by surgical and histopathological report. These patients had computed tomography before lobectomy from January 2022 to April 2025, at Ho Chi Minh City Oncology Hospital. Results: In 83 cases of NSCLC, there were 79 solid nodules and 4 subsolid nodules. There were 46 pleural-attached nodules and 37 pleural-tag nodules. VPI was significantly more frequent in pleural-attached nodules than in pleural-tag nodules (73.9% vs. 26.1%, p < 0.001). In univariate analysis, contact surface area (OR = 1.03; 95% CI: 1.0002–1.07; p = 0.049), the longest pleural contact length (OR = 1.07; 95% CI: 1.01–1.14; p = 0.028), contact length–to-size ratio (OR = 1.05; 95% CI: 1.01–1.09; p = 0.01), and jellyfish sign (OR = 48.33; 95% CI: 4.15–562.42; p = 0.002) were prognostic factors for VPI. In multivariate analysis, contact surface area (OR = 1.09; 95% CI: 1.003–1.18; p = 0.042), jellyfish sign (OR = 22.83; 95% CI: 2.32–224.29; p = 0.007), and multiple pleural tags sign (OR = 9.32; 95% CI: 1.15–75.90; p = 0.037) were independent prognostic factors for VPI. Conclusions: For patients with NSCLC, CT predictors of VPI were the jellyfish sign, contact surface area, the longest pleural contact length, contact length–to-size ratio (pleural-attached nodules), and multiple pleural tags to different pleura surfaces (pleural-tag nodules). DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.9
PDF

Tài liệu tham khảo

Quy định về Giấy phép Công khai cho các Tác phẩm được Xuất bản

 

1. Tuyên bố chung

Tạp chí [Tên Tạp chí] cam kết thúc đẩy sự phát triển và lan tỏa tri thức khoa học một cách cởi mở nhất. Để thực hiện sứ mệnh này, tất cả các bài viết được xuất bản trên tạp chí đều được phát hành theo các điều khoản của giấy phép công khai Creative Commons (CC).

Việc áp dụng giấy phép này cho phép tác giả giữ bản quyền đối với tác phẩm của mình, đồng thời trao cho cộng đồng quyền tự do sử dụng, chia sẻ và xây dựng dựa trên tác phẩm đó một cách hợp pháp và rõ ràng, góp phần thúc đẩy tối đa hóa tác động của nghiên cứu.

2. Giới thiệu về Giấy phép Creative Commons (CC)

Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu cung cấp một bộ công cụ pháp lý (giấy phép) tiêu chuẩn, miễn phí để các nhà sáng tạo có thể chia sẻ tác phẩm của mình. Thay vì mô hình "bảo lưu mọi quyền" (All Rights Reserved) truyền thống, giấy phép CC hoạt động theo mô hình "bảo lưu một số quyền" (Some Rights Reserved).

Các giấy phép CC bao gồm các thành tố cốt lõi sau:

  • BY (Ghi công - Attribution): Người dùng phải ghi công (nêu tên) tác giả gốc một cách thích hợp. Đây là điều kiện bắt buộc trong tất cả các giấy phép CC.

  • NC (Phi thương mại - NonCommercial): Người dùng không được sử dụng tác phẩm cho các mục đích thương mại.

  • ND (Không phái sinh - NoDerivatives): Người dùng có thể sao chép và phân phối tác phẩm ở định dạng nguyên bản, nhưng không được phép sửa đổi, phối lại hay tạo ra tác phẩm phái sinh.

  • SA (Chia sẻ tương tự - ShareAlike): Nếu người dùng phối lại, chuyển thể tác phẩm, họ phải phân phối tác phẩm mới của mình dưới cùng một giấy phép với tác phẩm gốc.

3. Các loại giấy phép được áp dụng tại Tạp chí

Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch  áp dụng loại

Giấy phép Ghi công Creative Commons 4.0 (CC BY 4.0)

Để khuyến khích để tối đa hóa sự phổ biến và sử dụng lại các công trình khoa học.

  • Người dùng được phép:

    • Chia sẻ: Sao chép và phân phối lại tác phẩm trên bất kỳ phương tiện và định dạng nào.

    • Phối lại: Phối lại, chuyển thể và xây dựng dựa trên tác phẩm cho bất kỳ mục đích nào, kể cả mục đích thương mại.

  • Với điều kiện:

    • Phải Ghi công (BY): Bạn phải ghi công tác giả một cách thích hợp, cung cấp một đường dẫn tới giấy phép, và cho biết nếu tác phẩm đã có sự thay đổi.

  •  

4. Trách nhiệm của Tác giả và Người dùng

  • Đối với Tác giả: Khi nộp bản thảo cho Tạp chí [Tên Tạp chí], tác giả đồng ý rằng nếu bài viết được chấp nhận xuất bản, nó sẽ được phát hành theo giấy phép [Ví dụ: CC BY 4.0] mà tạp chí áp dụng. Tác giả vẫn là người giữ bản quyền gốc.

  • Đối với Người dùng: Người dùng có trách nhiệm kiểm tra và tuân thủ các điều khoản của giấy phép được áp dụng cho mỗi bài viết. Việc ghi công tác giả là yêu cầu bắt buộc và cần được thực hiện đúng cách.

Cách ghi công chuẩn:

Khi sử dụng hoặc trích dẫn lại một tác phẩm, bạn nên ghi công như sau:

"[Tên bài viết]" của [Tên các tác giả], được cấp phép dưới [Tên giấy phép, ví dụ: CC BY 4.0]. Nguồn: Tạp chí [Tên Tạp chí], Tập [X], Số [Y], trang [Z], (Năm xuất bản). DOI: [Link DOI của bài báo].