|
Dựa trên tài liệu chuyên môn về Phục hồi chức năng, kỹ thuật tập thở cơ hoành (còn gọi là thở bụng) có phạm vi chỉ định rất rộng rãi, không chỉ giới hạn ở bệnh lý hô hấp đơn thuần. Kỹ thuật này được áp dụng cho các nhóm đối tượng sau:
1. Nhóm bệnh lý Hô hấp và Tim mạch: Đây là nhóm chỉ định chính, bao gồm các bệnh phổi nguyên phát hoặc thứ phát, tình trạng co thắt phế quản (như COPD, hen), xẹp phổi, viêm xơ phổi, hoặc suy tim có tình trạng ứ đọng máu ở phổi làm suy giảm thông khí.
2. Nhóm can thiệp Ngoại khoa: Kỹ thuật này rất quan trọng cho bệnh nhân trước hoặc sau phẫu thuật vùng lồng ngực, tim mạch, phổi, ổ bụng, hoặc phẫu thuật chỉnh hình vẹo cột sống. Mục tiêu là để ngăn ngừa biến chứng phổi do bất động hoặc đau sau mổ.
3. Nhóm Thần kinh - Cơ: Áp dụng cho người bệnh có tình trạng yếu cơ hô hấp như: bệnh nhược cơ, hội chứng Guillain-Barre, hoặc tổn thương tủy sống.
4. Nhóm hạn chế hô hấp do cơ học/thể chất: Bao gồm người béo phì, dị tật hệ cơ xương, người bị chướng hơi đầy bụng, phụ nữ có thai, và đặc biệt là người bệnh nằm lâu ngày do liệt hoặc suy nhược có khuynh hướng giảm thông khí.
5. Nhóm Tâm lý và Rối loạn khác:
Người bị căng thẳng (stress), lo âu, suy nhược thần kinh: Thở cơ hoành giúp kích hoạt hệ thần kinh đối giao cảm, tạo sự thư giãn.
Người bệnh dùng thuốc mê/quá liều thuốc, rối loạn chuyển hóa, hoặc người bệnh thở máy bị rối loạn điều hợp cơ hoành.
Lưu ý quan trọng:
Mặc dù phổ biến, cần thận trọng hoặc chống chỉ định kỹ thuật này với các trường hợp: Tràn khí màng phổi, chấn thương lồng ngực/cơ hoành chưa được xử trí, hoặc lao phổi đợt cấp
|