Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ISSN 2815-6366 Truy cập mở Phản biện kín hai chiều
Biểu trưng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Giá trị của phương pháp cấy đàm ở bệnh nhân cao tuổi vào đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị nội trú tại Bệnh viện Thống Nhất
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch
Pham Ngoc Thach Medical and Pharmaceutical Journal · ISSN 2815-6366
PDF

Từ khóa

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (GOLD)
người cao tuổi
cấy đàm định lượng

Danh mục

Cách trích dẫn

Giá trị của phương pháp cấy đàm ở bệnh nhân cao tuổi vào đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị nội trú tại Bệnh viện Thống Nhất. (2022). Tạp Chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch, 1(2), 90-96. https://bsgdtphcm.vn/ojs/index.php/pnt/article/view/51

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là một trong những gánh nặng bệnh tật toàn cầu, với diễn tiến thường gặp nhất là đợt cấp của bệnh thường đi kèm tình trạng nhiễm trùng. Cấy đàm giúp xác định vi khuẩn nhằm điều trị kháng sinh tối ưu cho bệnh nhân. Mục tiêu: Nghiên cứu giá trị của phương pháp cấy đàm và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân cao tuổi vào đợt cấp BPTNMT điều trị nội trú tại khoa Nội Hô hấp của Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 10/2019 đến hết tháng 06/2020. Phương pháp và đối tượng: Nghiên cứu tiến cứu cắt ngang mô tả trên 167 bệnh nhân ≥ 60 tuổi nhập viện vì đợt cấp BPTNMT, được khai thác tiền căn, bệnh sử, triệu chứng lâm sàng và được cấy đàm định lượng, sau đó tiến hành phân tích kết quả cấy đàm. Kết quả: Tỷ lệ cấy đàm phân lập được tác nhân vi sinh là 25,1%. Bệnh nhân đàm đổi màu có khả năng cấy đàm dương tính cao hơn nhóm còn lại (OR 2,24, KTC 95% 1,08 - 4,65, p = 0,033). Bệnh nhân có mức độ tắc nghẽn nặng và rất nặng (GOLD3 - 4) có tỷ lệ cấy dương tính cao hơn (OR 3,88, KTC 95% 1,42 - 10,59, p = 0,005). Không ghi nhận mối liên quan giữa phân nhóm nguy cơ thấp hoặc cao và tiền căn sử dụng kháng sinh với tỷ lệ cấy đàm dương tính. Kết luận: Chỉ 1/4 bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp BPTNMT có kết quả cấy đàm dương tính. Tỷ lệ nuôi cấy đàm dương tính cao hơn ở bệnh nhân có đàm đổi màu, bệnh nhân tắc nghẽn nặng và rất nặng, trong khi phân nhóm nguy cơ và tiền căn sử dụng kháng không có mối liên quan

PDF

Tài liệu tham khảo

Creative Commons License

Tác phẩm này được cấp phép theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Phi thương mại-Không phái sinh 4.0 Quốc tế.

Bản quyền (c) {copyrightHolder}