Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ISSN 2815-6366 Truy cập mở Phản biện kín hai chiều
Biểu trưng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Đối sánh 06 chương trình đào tạo cử nhân điều dưỡng theo mức độ đào tạo nhân lực trình độ quốc tế
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch
Pham Ngoc Thach Medical and Pharmaceutical Journal · ISSN 2815-6366
PDF

Từ khóa

Chương trình đào tạo
Cử nhân Điều dưỡng
Đào tạo trình độ quốc tế

Cách trích dẫn

Đối sánh 06 chương trình đào tạo cử nhân điều dưỡng theo mức độ đào tạo nhân lực trình độ quốc tế. (2026). Tạp Chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch, 3(3). https://bsgdtphcm.vn/ojs/index.php/pnt/article/view/417

Tóm tắt

Giới thiệu: Đào tạo nhân lực trình độ quốc tế ngành y tế tại TP. Hồ Chí Minh là nhiệm vụ của Đề án thành phần 6 (thuộc Đề án tổng thể đào tạo nhân lực trình độ quốc tế của UBND TP. HCM) mà trong đó các chương trình đào tạo Cử nhân Điều dưỡng (CTĐT CNĐD) được phân tích đối sánh nhằm xác định các điều kiện để đào tạo CNĐD trình độ quốc tế, cũng như để xác định mức độ đào tạo trình độ quốc tế của các CTĐT này. Mục tiêu: Đối sánh 06 chương trình đào tạo Cử nhân Điều dưỡng theo mức độ đào tạo nhân lực trình độ quốc tế. Phương pháp tiến hành: Lựa chọn, thu thập, lập bảng đối sánh 06 CTĐT CNĐD bao gồm CTĐT 1 của Khoa Điều Dưỡng, trường Đại học Quốc tế Miền Đông, 2 của Khoa Điều Dưỡng, trường Đại Học Y Hà Nội, 3 của Khoa Điều Dưỡng, trường Đại Học Y Dược Thái Nguyên, 4 của Khoa Y Dược, trường Đại học Trà Vinh, 5 của Khoa Điều Dưỡng và Kỹ Thuật Y Học, trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch và 6 của Khoa Điều dưỡng, trường Đại Học Nguyễn Tất Thành để phân tích đối sánh. Kết quả: Hai CTĐT CNĐD của trường ĐH Quốc tế Miền Đông và trường ĐH Y Hà Nội (chương trình tiên tiến) do có tăng thời gian đào tạo chung từ 0,5 năm đến 01 năm để tăng cường trình độ ngoại ngữ của người học, đồng thời vừa dạy - học bằng tiếng Việt và tiếng Anh nên đáp ứng hầu hết các điều kiện của CTĐT về cấu trúc, về trình độ ngoại ngữ và về các đặc trưng nhận dạng của nhân lực trình độ quốc tế và do vậy được xem là có Mức độ Sẵn sàng trong đào tạo CNĐD trình độ quốc tế. CTĐT CNĐD của trường Đại học Nguyễn Tất Thành có tăng cường khối lượng kiến thức về Anh ngữ nhằm nâng cao trình độ ngoại ngữ của người học, đồng thời vừa dạy - học bằng tiếng Việt và tiếng Anh nên đáp ứng được một phần của các điều kiện (đã nêu ở trên) và được xem là có Mức độ Thuận lợi trong đào tạo CNĐD trình độ quốc tế. Hai CTĐT CNĐD của trường ĐH Y Dược Thái Nguyên và trường ĐH Trà Vinh (đã đạt chuẩn kiểm định AUN-QA/Asean University Network - Quality Assurance) cũng chỉ đáp ứng được một phần của các điều kiện (đã nêu ở trên) nên được xem là có Mức độ Thuận lợi trong đào tạo CNĐD trình độ quốc tế. CTĐT CNĐD của trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch đáp ứng khá ít các điều kiện (đã nêu ở trên) nên được xem là có Mức độ Chưa sẵn sàng trong đào tạo CNĐD trình độ quốc tế. Kết luận: Trong việc đào tạo CNĐD trình độ quốc tế, CTĐT có tăng cường thời gian dạy - học để nâng cao trình độ ngoại ngữ của người học, đồng thời có 1 phần của CTĐT được chuyển tải bằng ngoại ngữ được xem là có Mức độ Sẵn sàng. CTĐT có tăng cường khối lượng kiến thức về ngoại ngữ để nâng cao trình độ ngoại ngữ của người học, đồng thời có 1 phần của CTĐT được chuyển tải bằng ngoại ngữ cùng với các CTĐT đã đạt chuẩn kiểm định quốc tế được xem là có Mức độ Thuận lợi. CTĐT khác với hai loại CTĐT trên thường được xem là có Mức độ Chưa sẵn sàng. Abstract Introduction: Internationalisation of education for medical human resources in Ho Chi Minh City is the responsibility of the Component Project 6 (belongs to “Overall Project of Internalisation of education/training for human resources” of People’s Committee of Ho Chi Minh City) in which Bachelor of Science in Nursing (BSN) training programs are benchmarked in order to identify the necessary requirements of internationalisation of education for BSN nurses, and to identify the level of internationalisation of education of these programs. Objective: To benchmark six BSN training programs in order to identify the level of internationalisation of education of these programs. Methods: 06 BSN training programs were chosen 1 from Faculty of Nursing - Eastern International University, 2 from Faculty of Nursing - Hanoi Medical University, 3 from Faculty of Nursing - Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy; 4 from Faculty of Medicine and Pharmacy, Tra Vinh University, 5 from Faculty of Nursing and Medical Technology, Pham Ngọc Thach University of Medicine, and 6 from Faculty of Nursing, Nguyen Tat Thanh University. Information about these programs were collected mostly from the official websites of these universities, and the benchmarking table was designed and completed. Then the table was analyzed and benchmarked. Results: Two BSN training programs of Eastern International University (EIU) and of Hanoi Medical University (HNU), which have longer time of training (one year with EIU and 0,5 year with HNU), with the purposes of increasing students’ English proficiency and delivery part of the training program in English to students, meet most of the requirements of the program in (1) structure, (2) foreign language proficiency, (3) characteristics of identification of internationalized human resource. They are considered to be of Ready Level in internationalisation of education for BSN nurses. BSN training program of Nguyen Tat Thanh University, which increases the study volume of English language with the purpose of increasing students’ English proficiency and delivery part of the training program in English to students, together with 02 BSN training programs of Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy and of Tra Vinh University (which have got AUN-QA accreditation certification) meet a part of the above requirements and are considered to be of Favorite Level in internationalisation of education for BSN nurses. BSN training program of Pham Ngoc Thach University of Medicine meets just a small part of the above requirements and is considered to be of Unready Level in internationalisation of education for BSN nurses. Conclusion: In the process of internationalisation of education for BSN nurses, those training programs which have longer time of training with the purpose of increasing students’ English proficiency along with delivery of lessons in English, are considered of Ready Level; those which have a bigger study volume of English along with delivery of lessons in English, together with those which have AUN-QA accreditation certifications are considered of Favorite Level; others are considered of Unready Level. DOI: 10.59715/pntjmp.3.3.3
PDF

Tài liệu tham khảo

Quy định về Giấy phép Công khai cho các Tác phẩm được Xuất bản

 

1. Tuyên bố chung

Tạp chí [Tên Tạp chí] cam kết thúc đẩy sự phát triển và lan tỏa tri thức khoa học một cách cởi mở nhất. Để thực hiện sứ mệnh này, tất cả các bài viết được xuất bản trên tạp chí đều được phát hành theo các điều khoản của giấy phép công khai Creative Commons (CC).

Việc áp dụng giấy phép này cho phép tác giả giữ bản quyền đối với tác phẩm của mình, đồng thời trao cho cộng đồng quyền tự do sử dụng, chia sẻ và xây dựng dựa trên tác phẩm đó một cách hợp pháp và rõ ràng, góp phần thúc đẩy tối đa hóa tác động của nghiên cứu.

2. Giới thiệu về Giấy phép Creative Commons (CC)

Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu cung cấp một bộ công cụ pháp lý (giấy phép) tiêu chuẩn, miễn phí để các nhà sáng tạo có thể chia sẻ tác phẩm của mình. Thay vì mô hình "bảo lưu mọi quyền" (All Rights Reserved) truyền thống, giấy phép CC hoạt động theo mô hình "bảo lưu một số quyền" (Some Rights Reserved).

Các giấy phép CC bao gồm các thành tố cốt lõi sau:

  • BY (Ghi công - Attribution): Người dùng phải ghi công (nêu tên) tác giả gốc một cách thích hợp. Đây là điều kiện bắt buộc trong tất cả các giấy phép CC.

  • NC (Phi thương mại - NonCommercial): Người dùng không được sử dụng tác phẩm cho các mục đích thương mại.

  • ND (Không phái sinh - NoDerivatives): Người dùng có thể sao chép và phân phối tác phẩm ở định dạng nguyên bản, nhưng không được phép sửa đổi, phối lại hay tạo ra tác phẩm phái sinh.

  • SA (Chia sẻ tương tự - ShareAlike): Nếu người dùng phối lại, chuyển thể tác phẩm, họ phải phân phối tác phẩm mới của mình dưới cùng một giấy phép với tác phẩm gốc.

3. Các loại giấy phép được áp dụng tại Tạp chí

Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch  áp dụng loại

Giấy phép Ghi công Creative Commons 4.0 (CC BY 4.0)

Để khuyến khích để tối đa hóa sự phổ biến và sử dụng lại các công trình khoa học.

  • Người dùng được phép:

    • Chia sẻ: Sao chép và phân phối lại tác phẩm trên bất kỳ phương tiện và định dạng nào.

    • Phối lại: Phối lại, chuyển thể và xây dựng dựa trên tác phẩm cho bất kỳ mục đích nào, kể cả mục đích thương mại.

  • Với điều kiện:

    • Phải Ghi công (BY): Bạn phải ghi công tác giả một cách thích hợp, cung cấp một đường dẫn tới giấy phép, và cho biết nếu tác phẩm đã có sự thay đổi.

  •  

4. Trách nhiệm của Tác giả và Người dùng

  • Đối với Tác giả: Khi nộp bản thảo cho Tạp chí [Tên Tạp chí], tác giả đồng ý rằng nếu bài viết được chấp nhận xuất bản, nó sẽ được phát hành theo giấy phép [Ví dụ: CC BY 4.0] mà tạp chí áp dụng. Tác giả vẫn là người giữ bản quyền gốc.

  • Đối với Người dùng: Người dùng có trách nhiệm kiểm tra và tuân thủ các điều khoản của giấy phép được áp dụng cho mỗi bài viết. Việc ghi công tác giả là yêu cầu bắt buộc và cần được thực hiện đúng cách.

Cách ghi công chuẩn:

Khi sử dụng hoặc trích dẫn lại một tác phẩm, bạn nên ghi công như sau:

"[Tên bài viết]" của [Tên các tác giả], được cấp phép dưới [Tên giấy phép, ví dụ: CC BY 4.0]. Nguồn: Tạp chí [Tên Tạp chí], Tập [X], Số [Y], trang [Z], (Năm xuất bản). DOI: [Link DOI của bài báo].