Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ISSN 2815-6366 Truy cập mở Phản biện kín hai chiều
Biểu trưng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Viêm bàng quang do Ketamine – thách thức mới cho các nhà niệu khoa
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch
Pham Ngoc Thach Medical and Pharmaceutical Journal · ISSN 2815-6366
PDF

Từ khóa

viêm bàng quang ketamine
viêm bàng quang liên quan với ketamine
bệnh tiết niệu do ketamine
rối loạn chức năng bàng quang do ketamine

Cách trích dẫn

Viêm bàng quang do Ketamine – thách thức mới cho các nhà niệu khoa. (2026). Tạp Chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch, 5(3). https://bsgdtphcm.vn/ojs/index.php/pnt/article/view/214

Tóm tắt

Giới thiệu: Viêm bàng quang do lạm dụng ketamine được báo cáo lần đầu trong y văn vào năm 2007. Gần đây, giới trẻ ở nhiều nước sử dụng khá phổ biến các thuốc gây nghiện được bào chế từ ketamine ở các vũ trường hoặc các câu lạc bộ giải trí (còn gọi là “thuốc lắc”, “thuốc ke”). Sau thời gian dài sử dụng ketamine, nhiều người có biểu hiện các triệu chứng giống như viêm bàng quang, mà nhiều khi rất nặng nề làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống. Việc điều trị rất khó khăn và thường để lại di chứng lâu dài. Bài viết này nhằm mục tiêu khảo sát y văn về về lịch sử phát hiện bệnh, các biểu hiện lâm sàng, cơ chế bệnh sinh, chẩn đoán và các biện pháp điều trị viêm bàng quang do ketamine. Đối tượng và phương pháp: Tìm trong Pubmed các tài liệu từ 01/01/2007 đến 01/03/2025, với các từ khóa ketamine cystitis, ketamine-induced cystitis, ketamine-related cystitis, ketamine uropathy, và chọn các bài viết tổng quan. Sở dĩ bắt đầu từ tháng 01 năm 2007, vì đây là thời điểm có báo cáo đầu tiên trong y văn về viêm bàng quang do ketamine. Kết quả: Tổng cộng có 39 tài liệu được xếp loại là bài tổng quan, nhưng sau khi xem xét, chúng tôi chọn được 20 bài phù hợp. Những bài không được chọn là vì không chủ yếu báo cáo về viêm bàng quang do ketamine mà chỉ là một phần trong các loại viêm bàng quang mạn, hoặc nhắc đến ketamine như là một trong số các loại ma túy. Chúng tôi cũng bổ sung một số báo cáo loạt trường hợp lâm sàng có kèm tổng quan y văn. Sau đây là những nhận định chung về viêm bàng quang do ketamine: Triệu chứng lâm sàng: biểu hiện các triệu chứng đường tiết niệu dưới và đau bàng quang trên người có nghiện ketamine, có thể bị ứ nước thận. Hình ảnh học : nhiều bệnh nhân ghi nhận bàng quang thành dày, dung tích nhỏ, ứ nước thận. Soi bàng quang: có thể thấy tình trạng viêm loét với niêm mạc dễ chảy máu. Cơ chế bệnh sinh của viêm bàng quang do ketamine rất phức tạp và liên quan đến nhiều con đường khác nhau, trong đó nổi bật là độc tính của ketamine cùng với các chất chuyển hóa của nó lên niệu mạc của hệ tiết niệu. Về mặt mô bệnh học , niệu mạc có đặc điểm bị xâm nhiễm nhiều tế bào viêm như dưỡng bào ( mast cell ) và tế bào ái toan ( eosinophils ). Chẩn đoán dựa trên hỏi bệnh sử cẩn thận, soi bàng quang và mô học. Điều trị: bước đầu tiên của việc là bảo bệnh nhân ngưng sử dụng ketamine. Điều trị nội khoa có thể giúp thuyên giảm triệu chứng nếu bệnh nhân mới dùng ketamine chưa lâu và không tái sử dụng. Thời gian sử dụng ketamine càng lâu, điều trị nội khoa càng kém hiệu quả. Các biện pháp bơm hyaluronic acid vào bàng quang hoặc tiêm botulinum toxin type A vào thành bàng quang đã được nghiên cứu nhưng hiệu quả không cao. Với những trường hợp mà biến thể bàng quang không thể phục hồi gây ra bàng quang co nhỏ, nên xem xét phẫu thuật tạo hình bàng quang bằng ruột để làm tăng dung tích bàng quang. Kết luận: Việc lạm dụng và nghiện ketamine ngày càng lan tràn, dẫn đến việc phát hiện viêm bàng quang do ketamine ngày càng nhiều. Triệu chứng nhiều khi rất nặng nề, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống. Diễn tiến lâu dần sẽ làm biến dạng bàng quang không phục hồi, khiến điều trị rất khó khăn. Vì thế, có thể xem viêm bàng quang do ketamine là thách thức mới cho các nhà niệu khoa. Abstract Introduction: Cystitis caused by ketamine abuse was first reported in the medical literature in 2007. Recently, a lot of young people in many countries have commonly used addictive drugs made from ketamine in entertainment clubs (also known as "ecstasy", "keken"). After a long time of using ketamine, many of them have symptoms similar to cystitis, which are often very severe and seriously affecting their quality of life. Treatment is usually difficult and often leaves long-term sequelae. This article aims to investigate the medical literature on the history of disease detection, pathogenesis, histopathology, clinical manifestations, diagnosis and treatment of ketamine-induced cystitis. Materials & Methods: Search Pubmed literature from 1 January 2007 to 1 March 2025, with the keywords ketamine cystitis, ketamine-induced cystitis, ketamine-related cystitis, ketamine uropathy, and select overview, review, systemic review articles. The reason started in January 2007, because this was the time when there was the first report in the medical literature on ketamine-induced cystitis. Results: A total of 39 papers were classified as overviews, but after reviewing, we selected 20 suitable articles. The articles were not selected because they do not primarily report on ketamine-induced cystitis but are only part of the chronic cystitis, or mention ketamine as one of the narcotic substances. We also added a number of clinical case series reports with medical overview, systematic review. The following are general comments about ketamine-induced cystitis: Clinical symptoms : Presentation of lower urinary tract symptoms and bladder pain in people with ketamine addiction; Some patients may have hydronephrosis. Imaging : Many patients have recorded a thick-walled bladder, small capacity; Some patients may have hydronephrosis. Cystoscopy : ulcerative inflammation with bleeding mucous membranes can be seen. The pathogenesis of ketamine-induced cystitis is complex and involves various pathways, among which the toxicity of ketamine along with its metabolites to the urothelium stands out. Histopathology: characterized by the urothelium being infiltrated by many inflammatory cells such as mast cell and eosinophils. Diagnosis: based on careful medical history, cystoscopy, and histology. Treatment : the first step is to tell the patient to stop using ketamine. Medical treatment can help relieve symptoms if the patient has not been on ketamine for a long time and does not reuse it. The longer ketamine is used, the less effective medical treatment will be. Some studies show that instillating hyaluronic acid into the bladder or injecting botulinum toxin type A into the bladder wall are effective in relieving symptoms for some patients. In cases where irreversible bladder variants cause bladder contractility, intestinal cystoplasty should be considered to increase bladder capacity and and improve kidney function. Conclusion: Ketamine abuse and addiction are becoming more and more widespread, leading to the detection of more and more ketamine-induced cystitis. The symptoms are sometimes very severe, seriously affecting the quality of life. Over time, it will cause irreversible bladder deformity, making treatment very difficult. Therefore, ketamine-induced cystitis can be considered a new challenge for urologists
PDF

Tài liệu tham khảo

Quy định về Giấy phép Công khai cho các Tác phẩm được Xuất bản

 

1. Tuyên bố chung

Tạp chí [Tên Tạp chí] cam kết thúc đẩy sự phát triển và lan tỏa tri thức khoa học một cách cởi mở nhất. Để thực hiện sứ mệnh này, tất cả các bài viết được xuất bản trên tạp chí đều được phát hành theo các điều khoản của giấy phép công khai Creative Commons (CC).

Việc áp dụng giấy phép này cho phép tác giả giữ bản quyền đối với tác phẩm của mình, đồng thời trao cho cộng đồng quyền tự do sử dụng, chia sẻ và xây dựng dựa trên tác phẩm đó một cách hợp pháp và rõ ràng, góp phần thúc đẩy tối đa hóa tác động của nghiên cứu.

2. Giới thiệu về Giấy phép Creative Commons (CC)

Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu cung cấp một bộ công cụ pháp lý (giấy phép) tiêu chuẩn, miễn phí để các nhà sáng tạo có thể chia sẻ tác phẩm của mình. Thay vì mô hình "bảo lưu mọi quyền" (All Rights Reserved) truyền thống, giấy phép CC hoạt động theo mô hình "bảo lưu một số quyền" (Some Rights Reserved).

Các giấy phép CC bao gồm các thành tố cốt lõi sau:

  • BY (Ghi công - Attribution): Người dùng phải ghi công (nêu tên) tác giả gốc một cách thích hợp. Đây là điều kiện bắt buộc trong tất cả các giấy phép CC.

  • NC (Phi thương mại - NonCommercial): Người dùng không được sử dụng tác phẩm cho các mục đích thương mại.

  • ND (Không phái sinh - NoDerivatives): Người dùng có thể sao chép và phân phối tác phẩm ở định dạng nguyên bản, nhưng không được phép sửa đổi, phối lại hay tạo ra tác phẩm phái sinh.

  • SA (Chia sẻ tương tự - ShareAlike): Nếu người dùng phối lại, chuyển thể tác phẩm, họ phải phân phối tác phẩm mới của mình dưới cùng một giấy phép với tác phẩm gốc.

3. Các loại giấy phép được áp dụng tại Tạp chí

Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch  áp dụng loại

Giấy phép Ghi công Creative Commons 4.0 (CC BY 4.0)

Để khuyến khích để tối đa hóa sự phổ biến và sử dụng lại các công trình khoa học.

  • Người dùng được phép:

    • Chia sẻ: Sao chép và phân phối lại tác phẩm trên bất kỳ phương tiện và định dạng nào.

    • Phối lại: Phối lại, chuyển thể và xây dựng dựa trên tác phẩm cho bất kỳ mục đích nào, kể cả mục đích thương mại.

  • Với điều kiện:

    • Phải Ghi công (BY): Bạn phải ghi công tác giả một cách thích hợp, cung cấp một đường dẫn tới giấy phép, và cho biết nếu tác phẩm đã có sự thay đổi.

  •  

4. Trách nhiệm của Tác giả và Người dùng

  • Đối với Tác giả: Khi nộp bản thảo cho Tạp chí [Tên Tạp chí], tác giả đồng ý rằng nếu bài viết được chấp nhận xuất bản, nó sẽ được phát hành theo giấy phép [Ví dụ: CC BY 4.0] mà tạp chí áp dụng. Tác giả vẫn là người giữ bản quyền gốc.

  • Đối với Người dùng: Người dùng có trách nhiệm kiểm tra và tuân thủ các điều khoản của giấy phép được áp dụng cho mỗi bài viết. Việc ghi công tác giả là yêu cầu bắt buộc và cần được thực hiện đúng cách.

Cách ghi công chuẩn:

Khi sử dụng hoặc trích dẫn lại một tác phẩm, bạn nên ghi công như sau:

"[Tên bài viết]" của [Tên các tác giả], được cấp phép dưới [Tên giấy phép, ví dụ: CC BY 4.0]. Nguồn: Tạp chí [Tên Tạp chí], Tập [X], Số [Y], trang [Z], (Năm xuất bản). DOI: [Link DOI của bài báo].