|
1. Nhóm bệnh lý Chống chỉ định (Không thực hiện)
Về hệ Hô hấp & Lồng ngực:
-
Tổn thương cấu trúc: Gãy xương sườn hoặc nghi ngờ gãy xương sườn.
-
Tổn thương phổi nặng: Dập phổi, Áp xe phổi (nguy cơ vỡ ổ áp xe lan ra phổi lành).
-
Ho ra máu: Đang ho ra máu nhiều.
-
Bệnh lý màng phổi/Phế quản: Viêm màng phổi, Khí phế thủng (Emphysema - do nguy cơ vỡ kén khí gây tràn khí màng phổi).
-
Tổn thương da: Vết thương hở, vết mổ chưa lành, vùng da bị bỏng, hoặc nơi đang đặt ống dẫn lưu ngực.
Về hệ Tim mạch & Máu:
-
Rối loạn đông máu: Khi tiểu cầu giảm thấp (dưới 50.000/mm³), vỗ rung có thể gây xuất huyết nội tạng hoặc bầm tím diện rộng.
-
Tim mạch không ổn định: Đau thắt ngực không ổn định, rối loạn nhịp tim (rung có thể kích thích làm rối loạn nhịp nặng hơn).
Các bệnh lý xương khớp khác:
-
Ung thư di căn xương: Nguy cơ gãy xương bệnh lý rất cao.
-
Loãng xương nặng: Xương giòn, dễ gãy dưới tác động lực vỗ.
2. Những vị trí giải phẫu "CẤM" vỗ trực tiếp
Dù bệnh nhân không có các bệnh lý trên, kỹ thuật viên cũng tuyệt đối không được vỗ lên các vùng xương nông hoặc cơ quan nhạy cảm sau:
-
Cột sống.
-
Xương ức (trước ngực).
-
Xương đòn.
-
Xương bả vai.
-
Vùng tuyến vú (ở phụ nữ).
-
Vùng dưới sườn (nguy cơ tổn thương gan, lách, thận).
3. Các trường hợp cần Cẩn trọng
Trong các trường hợp này, có thể thực hiện nhưng phải giảm lực, lót khăn dày hoặc thay thế bằng kỹ thuật khác nhẹ nhàng hơn:
-
Người già: Xương sườn kém đàn hồi (như trường hợp bà A 72 tuổi trong tình huống trước).
-
Trẻ em: Lồng ngực còn mềm.
-
Thể trạng: Người quá gầy (vỗ trực tiếp lên xương) hoặc quá béo (lớp mỡ dày làm giảm hiệu quả truyền lực).
-
Da nhạy cảm: Dễ bị mẩn ngứa, bầm tím.
-
Bệnh nhân đang đau nhiều sau phẫu thuật ngực.
Nếu chúng ta gặp bệnh nhân có một trong các dấu hiệu trên, không thực hiện kỹ thuật vỗ rung. Thay vào đó, hãy sử dụng các biện pháp an toàn hơn như: tập thở cơ hoành, tập ho hữu hiệu, hoặc chỉ sử dụng kỹ thuật rung nhẹ nhàng trong thì thở ra kết hợp dẫn lưu tư thế
|