Tóm tắt
Đặt vấn đề: Cơ thang là một trong những cơ bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi hội chứng đau cơ mạc. Việc hiểu biết đường đi và đặc điểm hình thái các nhánh của thần kinh phụ vào cơ thang cung cấp nhiều dữ liệu quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị hội chứng đau cơ mạc. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình thái các nhánh sơ cấp của thần kinh phụ vào cơ thang trên xác người Việt trưởng thành. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả; thực hiện trên 18 mẫu cơ thang từ 9 xác người Việt trưởng thành bảo quản đông lạnh tại bộ môn giải phẫu trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch từ tháng 4/2024 đến 07/2024. Phẫu tích khảo sát đường đi thần kinh phụ (TKP) đoạn từ tam giác cổ sau đến mặt bụng cơ thang (CTh), ghi nhận đặc điểm hình thái các nhánh sơ cấp (SC) tách ra từ thân chính TKP. Kết quả: Nghiên cứu ghi nhận 100% trường hợp có sự hiện diện nhánh sơ cấp của thần kinh phụ đi vào cơ thang. Số nhánh sơ cấp trung bình là 7,9 ± 2,5. Các nhánh sơ cấp đều chi phối cho cả ba phần cơ thang, nhưng phần giữa chiếm tỷ lệ cao nhất (54,9%). Hình thái các nhánh sơ cấp được ghi nhận có 2 dạng, trong đó đa số là dạng 1 chiếm 81,7%. Ngoài ra, nghiên cứu còn ghi nhận các đặc điểm trên đường đi của TKP bao gồm tất cả các trường hợp TKP đều thoát ra tại vị trí 1/3 trên bờ sau cơ ức đòn chũm, thân chính tách ra nhánh đi vào bờ trước cơ thang chiếm 11,2%; thân chính TKP có nhánh nối với đám rối cổ chiếm 44,5%. Kết luận: Phân bố các nhánh thần kinh phụ trên cơ thang có sự đa dạng và phức tạp. Vì vậy cần thêm những nghiên cứu tương tự trên với số liệu lớn trên người Việt. Để ứng dụng dễ trên lâm sàng, nên tiến hành nghiên cứu định vị điểm thần kinh vào cơ bằng hệ trục tọa độ trên bề mặt da. Abstract Background: The trapezius muscle is one of the most affected by the myofascial pain syndrome. Understanding the course and morphological characteristics of the branches of the AN innervating the TM provides valuable data for the diagnosis and treatment of myofascial pain syndrome. Objectives: Report the morphological characteristics of the primary branches of the accessory nerve innervating the trapezius muscle in adult Vietnamese cadavers. Methods: A descriptive cross-sectional study was conducted on 18 trapezius muscle specimens obtained from 9 adult Vietnamese cadavers preserved by freezing at the Department of Anatomy, Pham Ngoc Thach University of Medicine, from April 2024 to July 2024. Dissection was performed to examine the course of the accessory nerve (AN) from the posterior cervical triangle to the ventral surface of the trapezius muscle (TM), and the morphological characteristics of the primary branches (PB) arising from the main trunk of the AN were recorded. Results: The study observed in 100% of cases that the primary branches of the AN entered the trapezius muscle. The average number of primary branches of the AN entering the TM is 7.9 ± 2.5. The primary branches innervate all three parts of the trapezius muscle, but the middle part has the highest proportion (54,9%). Two morphological patterns of the primary branches are observed, with type 1 being the most prevalent, accounting for 81.7%. Along the course of the AN, it is observed in 100% of cases that the AN emerged at the junction of the upper and middle thirds of the posterior border of the sternocleidomastoid muscle. The main trunk gives off a branch to the anterior border of the TM in 11.2% of cases. In addition, the study found that in 44.5% of cases, the main trunk of the AN had a communicating branch with the cervical plexus. Conclusions: The distribution of the accessory nerve branches on the trapezius muscle exhibits considerable variability and complexity, necessitating further studies with larger sample sizes in the Vietnamese population. For easy clinical application, it is recommended to conduct research on locating nerve points into muscles using a coordinate system on the skin surface. DOI: 10.59715/pntjmp.3.4.19Tài liệu tham khảo
Quy định về Giấy phép Công khai cho các Tác phẩm được Xuất bản
1. Tuyên bố chung
Tạp chí [Tên Tạp chí] cam kết thúc đẩy sự phát triển và lan tỏa tri thức khoa học một cách cởi mở nhất. Để thực hiện sứ mệnh này, tất cả các bài viết được xuất bản trên tạp chí đều được phát hành theo các điều khoản của giấy phép công khai Creative Commons (CC).
Việc áp dụng giấy phép này cho phép tác giả giữ bản quyền đối với tác phẩm của mình, đồng thời trao cho cộng đồng quyền tự do sử dụng, chia sẻ và xây dựng dựa trên tác phẩm đó một cách hợp pháp và rõ ràng, góp phần thúc đẩy tối đa hóa tác động của nghiên cứu.
2. Giới thiệu về Giấy phép Creative Commons (CC)
Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu cung cấp một bộ công cụ pháp lý (giấy phép) tiêu chuẩn, miễn phí để các nhà sáng tạo có thể chia sẻ tác phẩm của mình. Thay vì mô hình "bảo lưu mọi quyền" (All Rights Reserved) truyền thống, giấy phép CC hoạt động theo mô hình "bảo lưu một số quyền" (Some Rights Reserved).
Các giấy phép CC bao gồm các thành tố cốt lõi sau:
-
BY (Ghi công - Attribution): Người dùng phải ghi công (nêu tên) tác giả gốc một cách thích hợp. Đây là điều kiện bắt buộc trong tất cả các giấy phép CC.
-
NC (Phi thương mại - NonCommercial): Người dùng không được sử dụng tác phẩm cho các mục đích thương mại.
-
ND (Không phái sinh - NoDerivatives): Người dùng có thể sao chép và phân phối tác phẩm ở định dạng nguyên bản, nhưng không được phép sửa đổi, phối lại hay tạo ra tác phẩm phái sinh.
-
SA (Chia sẻ tương tự - ShareAlike): Nếu người dùng phối lại, chuyển thể tác phẩm, họ phải phân phối tác phẩm mới của mình dưới cùng một giấy phép với tác phẩm gốc.
3. Các loại giấy phép được áp dụng tại Tạp chí
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch áp dụng loại
Giấy phép Ghi công Creative Commons 4.0 (CC BY 4.0)
Để khuyến khích để tối đa hóa sự phổ biến và sử dụng lại các công trình khoa học.
-
Người dùng được phép:
-
Chia sẻ: Sao chép và phân phối lại tác phẩm trên bất kỳ phương tiện và định dạng nào.
-
Phối lại: Phối lại, chuyển thể và xây dựng dựa trên tác phẩm cho bất kỳ mục đích nào, kể cả mục đích thương mại.
-
-
Với điều kiện:
-
Phải Ghi công (BY): Bạn phải ghi công tác giả một cách thích hợp, cung cấp một đường dẫn tới giấy phép, và cho biết nếu tác phẩm đã có sự thay đổi.
-
4. Trách nhiệm của Tác giả và Người dùng
-
Đối với Tác giả: Khi nộp bản thảo cho Tạp chí [Tên Tạp chí], tác giả đồng ý rằng nếu bài viết được chấp nhận xuất bản, nó sẽ được phát hành theo giấy phép [Ví dụ: CC BY 4.0] mà tạp chí áp dụng. Tác giả vẫn là người giữ bản quyền gốc.
-
Đối với Người dùng: Người dùng có trách nhiệm kiểm tra và tuân thủ các điều khoản của giấy phép được áp dụng cho mỗi bài viết. Việc ghi công tác giả là yêu cầu bắt buộc và cần được thực hiện đúng cách.
Cách ghi công chuẩn:
Khi sử dụng hoặc trích dẫn lại một tác phẩm, bạn nên ghi công như sau:
"[Tên bài viết]" của [Tên các tác giả], được cấp phép dưới [Tên giấy phép, ví dụ: CC BY 4.0]. Nguồn: Tạp chí [Tên Tạp chí], Tập [X], Số [Y], trang [Z], (Năm xuất bản). DOI: [Link DOI của bài báo].