Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ISSN 2815-6366 Truy cập mở Phản biện kín hai chiều
Biểu trưng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên bệnh nhân nội trú tại bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch
Pham Ngoc Thach Medical and Pharmaceutical Journal · ISSN 2815-6366
PDF

Từ khóa

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu
Kháng sinh đồ
Vi khuẩn Gram âm
Vi khuẩn đa kháng

Cách trích dẫn

Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên bệnh nhân nội trú tại bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp. (2026). Tạp Chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch, 4(1). https://bsgdtphcm.vn/ojs/index.php/pnt/article/view/378

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là một trong những bệnh lý nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp trên bệnh nhân nội trú. Ở Việt Nam, mức độ và tốc độ kháng thuốc ngày càng gia tăng, đã xuất hiện các vi khuẩn kháng với nhiều kháng sinh được xem là tình trạng đa kháng thuốc. Đây là một vấn đề thách thức đối với điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên bệnh nhân nội trú. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm mô tả căn nguyên vi sinh của bệnh nhân nội trú được chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu bệnh viện và đặc điểm kháng sinh đồ của vi khuẩn Gram âm phân lập được trên bệnh nhân nội trú được chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Đối tượng, phương pháp thu nhận và phân lập mẫu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 95 mẫu nước tiểu từ 95 bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu bệnh viện có kết quả cấy nước tiểu và kháng sinh đồ dương tính được thực hiện từ tháng 02 năm 2024 đến tháng 08 năm 2024 tại Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp. Bệnh nhân có triệu chứng sau 48 giờ nhập viện được thu thập nước tiểu sạch giữa dòng hoặc lấy qua thông tiểu, cấy vi khuẩn định danh trên môi trường thạch Mac Conkey Agar và thực hiện kháng sinh đồ theo phương pháp khoanh giấy khuếch tán trong thạch. Vi khuẩn mọc có ý nghĩa là mọc ≥ 105 CFU/ml. Vi khuẩn đa kháng là đề kháng với ít nhất 1 kháng sinh trong ít nhất 3 lớp kháng sinh được thử. Kết quả: Có tổng cộng 95 bệnh nhân đưa vào nghiên cứu, thu thập được 95 mẫu nước tiểu đạt chuẩn có kết quả cấy nước tiểu dương tính có ý nghĩa. Tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 60,1 ± 16,1 tuổi, trong đó nam chiếm tỷ lệ 60,0%. Vi khuẩn phân lập được chủ yếu là vi khuẩn Gram âm chiếm tỷ lệ 95,8%. Các chủng vi khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất là Escherichia coli 27,4%, Klebsiella spp 23,2%, Pseudomonas aeruginosa 21,1%. Kết quả nghiên cứu cho thấy các vi khuẩn này có tình trạng đề kháng cao với kháng sinh: Escherichia coli kháng 96,2% với Ceftriaxon, kháng trên 50% với Ticarcillin/Clavulanate, Ceftazidim, Trimethoprim/Sulfamethoxazole. Klebsiella spp. và Pseudomonas aeruginosa đề kháng trên 50% với hầu hết tất cả các kháng sinh thử nghiệm, chỉ ngoại trừ Colistin. Kết luận: Vi khuẩn Gram âm là vi khuẩn chủ yếu gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Vi khuẩn đã đề kháng với nhiều kháng sinh thường được sử dụng để điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Kháng sinh còn nhạy là Cefepime, Piperacillin/Tazobactam, Amikacin, Gentamicin, Imipenem, Meropenem, Colistin. Abstract Objectives: Nosocomial urinary tract infection is one of the most common infectious diseases in hospitalized patients. However, the current increasing trend of antibiotic - resistant bacteria, especially those with multidrug resistant, is a preliminary issue for the treatment of urinary tract infection in inpatients. The study aims to describe the microbiological aetiology of inpatients diagnosed with urinary tract infections and their antibiogram characteristics. Methods: Descriptive cross-sectional study on 95 urine samples from 95 patients diagnosed with urinary tract infection conducted from February 2024 to August 2024 at Hospital for Rehabilitation - Professional diseases. Patients with symptoms after 48 hours of admission will have clean midstream urine collected or urine collected through catheterization. Urine sample is cultured on Mac Conkey Agar with significant growth criteria above 105 CFU/ml and antibiogram is performed using the method Kirby Bauer disk diffusion test. MDR bacteria is defined as resistance to at least 1 antibiotic in at least 3 classes of antibiotics tested. Results: A total of 95 patients were included in the study and 95 standard urine samples with significant positive urine culture results were collected. The mean age of the study sample was 60.1 ± 16.1 years old, in which the male accounts for 60.0%. Bacteria isolated were mainly Gram - negative bacteria, accounting for 95.8%. Bacteria strains accounted for the highest percentage were Escherichia coli 27.4%, Klebsiella spp 23.2%, Pseudomonas aeruginosa 21.1%. Results showed that these bacteria were highly resistant to antibiotics with 96.2% Escherichia coli were resistant to Ceftriaxone and over 50% of those were resistant to Ticarcillin/Clavulanate, Ceftazidime, Trimethoprim/Sulfamethoxazole; more than 50% of Klebsiella spp. and Pseudomonas aeruginosa were resistant to almost all tested antibiotics, except Colistin. Conclusions: Gram-negative uropathogens are the main cause of urinary tract infection. Bacteria have become resistant to many antibiotics commonly used to treat urinary tract infection. Susceptible antibiotics are Cefepime, Piperacillin/Tazobactam, Amikacin, Gentamicin, Imipenem, Meropenem, Colistin. DOI: 10.59715/pntjmp.4.1.15
PDF

Tài liệu tham khảo

Quy định về Giấy phép Công khai cho các Tác phẩm được Xuất bản

 

1. Tuyên bố chung

Tạp chí [Tên Tạp chí] cam kết thúc đẩy sự phát triển và lan tỏa tri thức khoa học một cách cởi mở nhất. Để thực hiện sứ mệnh này, tất cả các bài viết được xuất bản trên tạp chí đều được phát hành theo các điều khoản của giấy phép công khai Creative Commons (CC).

Việc áp dụng giấy phép này cho phép tác giả giữ bản quyền đối với tác phẩm của mình, đồng thời trao cho cộng đồng quyền tự do sử dụng, chia sẻ và xây dựng dựa trên tác phẩm đó một cách hợp pháp và rõ ràng, góp phần thúc đẩy tối đa hóa tác động của nghiên cứu.

2. Giới thiệu về Giấy phép Creative Commons (CC)

Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu cung cấp một bộ công cụ pháp lý (giấy phép) tiêu chuẩn, miễn phí để các nhà sáng tạo có thể chia sẻ tác phẩm của mình. Thay vì mô hình "bảo lưu mọi quyền" (All Rights Reserved) truyền thống, giấy phép CC hoạt động theo mô hình "bảo lưu một số quyền" (Some Rights Reserved).

Các giấy phép CC bao gồm các thành tố cốt lõi sau:

  • BY (Ghi công - Attribution): Người dùng phải ghi công (nêu tên) tác giả gốc một cách thích hợp. Đây là điều kiện bắt buộc trong tất cả các giấy phép CC.

  • NC (Phi thương mại - NonCommercial): Người dùng không được sử dụng tác phẩm cho các mục đích thương mại.

  • ND (Không phái sinh - NoDerivatives): Người dùng có thể sao chép và phân phối tác phẩm ở định dạng nguyên bản, nhưng không được phép sửa đổi, phối lại hay tạo ra tác phẩm phái sinh.

  • SA (Chia sẻ tương tự - ShareAlike): Nếu người dùng phối lại, chuyển thể tác phẩm, họ phải phân phối tác phẩm mới của mình dưới cùng một giấy phép với tác phẩm gốc.

3. Các loại giấy phép được áp dụng tại Tạp chí

Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch  áp dụng loại

Giấy phép Ghi công Creative Commons 4.0 (CC BY 4.0)

Để khuyến khích để tối đa hóa sự phổ biến và sử dụng lại các công trình khoa học.

  • Người dùng được phép:

    • Chia sẻ: Sao chép và phân phối lại tác phẩm trên bất kỳ phương tiện và định dạng nào.

    • Phối lại: Phối lại, chuyển thể và xây dựng dựa trên tác phẩm cho bất kỳ mục đích nào, kể cả mục đích thương mại.

  • Với điều kiện:

    • Phải Ghi công (BY): Bạn phải ghi công tác giả một cách thích hợp, cung cấp một đường dẫn tới giấy phép, và cho biết nếu tác phẩm đã có sự thay đổi.

  •  

4. Trách nhiệm của Tác giả và Người dùng

  • Đối với Tác giả: Khi nộp bản thảo cho Tạp chí [Tên Tạp chí], tác giả đồng ý rằng nếu bài viết được chấp nhận xuất bản, nó sẽ được phát hành theo giấy phép [Ví dụ: CC BY 4.0] mà tạp chí áp dụng. Tác giả vẫn là người giữ bản quyền gốc.

  • Đối với Người dùng: Người dùng có trách nhiệm kiểm tra và tuân thủ các điều khoản của giấy phép được áp dụng cho mỗi bài viết. Việc ghi công tác giả là yêu cầu bắt buộc và cần được thực hiện đúng cách.

Cách ghi công chuẩn:

Khi sử dụng hoặc trích dẫn lại một tác phẩm, bạn nên ghi công như sau:

"[Tên bài viết]" của [Tên các tác giả], được cấp phép dưới [Tên giấy phép, ví dụ: CC BY 4.0]. Nguồn: Tạp chí [Tên Tạp chí], Tập [X], Số [Y], trang [Z], (Năm xuất bản). DOI: [Link DOI của bài báo].