Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ISSN 2815-6366 Truy cập mở Phản biện kín hai chiều
Biểu trưng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Đánh giá kết quả điều trị hẹp, tắc động mạch đùi nông bằng phương pháp can thiệp nội mạch
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch
Pham Ngoc Thach Medical and Pharmaceutical Journal · ISSN 2815-6366
PDF

Từ khóa

Bệnh động mạch chi dưới mạn tính
động mạch đùi nông
can thiệp nội mạch
nong bóng
đặt giá đỡ
TASC II
chỉ số ABI

Cách trích dẫn

Đánh giá kết quả điều trị hẹp, tắc động mạch đùi nông bằng phương pháp can thiệp nội mạch. (2026). Tạp Chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch, 5(1). https://bsgdtphcm.vn/ojs/index.php/pnt/article/view/285

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Bệnh động mạch chi dưới mạn tính do xơ vữa rất thường gặp, làm tăng rõ rệt nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tử vong và cắt cụt chi, trong đó tổn thương hẹp, tắc động mạch đùi nông là vị trí hay gặp. Bệnh viện 30-4 đã triển khai can thiệp nội mạch điều trị các tổn thương này từ năm 2019 nhưng chưa có nghiên cứu đánh giá kết quả một cách hệ thống. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả chu phẫu, trung hạn của điều trị hẹp, tắc động mạch đùi nông bằng phương pháp can thiệp nội mạch tại Bệnh viện 30-4. Đối tượng – Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca, theo dõi dọc trên 51 bệnh nhân ≥18 tuổi, được chẩn đoán hẹp hoặc tắc mạn tính động mạch đùi nông do xơ vữa có triệu chứng (đau cách hồi không đáp ứng nội khoa, thiếu máu đe dọa chi) và được can thiệp nội mạch tại Bệnh viện 30-4 từ 01/2020 đến 12/2024. Loại trừ các trường hợp tổn thương không do xơ vữa, tắc cấp tính hoặc phẫu thuật bắc cầu/hybrid. Bệnh nhân được nong bóng, có hoặc không đặt giá đỡ; đánh giá thành công kỹ thuật, thành công lâm sàng (ABI, phân độ Rutherford), siêu âm Doppler mạch chi tại thời điểm ra viện, 3, 6 và 12 tháng. Số liệu được xử lý bằng SPSS 16.0, p<0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê. Kết quả: 51 bệnh nhân (tuổi trung bình 71,3; 74,5% nam, đa số thiếu máu chi trầm trọng, TASC II C–D chiếm chủ yếu) được can thiệp với tỉ lệ thành công kỹ thuật 100%, biến chứng chu phẫu 11,7%, không tử vong. ABI tăng từ khoảng 0,6 lên 0,9 sau can thiệp, duy trì 0,9 ở 3–6 tháng và còn 0,8 sau 12 tháng; tỉ lệ còn dòng chảy tốt và cải thiện lâm sàng đạt cao trong 6 tháng đầu nhưng giảm còn khoảng 55% sau 12 tháng. Kết quả 12 tháng tốt hơn rõ ở tổn thương TASC II A–B và nhóm nong bóng kèm đặt giá đỡ so với chỉ nong bóng. Kết luận: Can thiệp nội mạch điều trị hẹp, tắc động mạch đùi nông tại Bệnh viện 30-4 đạt tỉ lệ thành công kỹ thuật rất cao, an toàn và cải thiện rõ rệt tưới máu chi, triệu chứng lâm sàng trong ngắn và trung hạn. Độ bền trung hạn phụ thuộc mức độ phức tạp tổn thương (TASC II) và chiến lược can thiệp, trong đó nong bóng kèm đặt giá đỡ cho kết quả duy trì tốt hơn. Abstract Background: Chronic lower extremity arterial disease due to atherosclerosis is common and markedly increases the risk of myocardial infarction, stroke, death, and limb amputation; among these lesions, stenosis and occlusion of the superficial femoral artery are particularly frequent. At 30-4 Hospital, endovascular intervention for these lesions has been implemented since 2019, but there has been no systematic evaluation of its outcomes. The objective of this study was to evaluate perioperative and mid-term outcomes of endovascular treatment for superficial femoral artery stenosis and occlusion at 30-4 Hospital. Objectives: To assess perioperative and mid-term outcomes of endovascular intervention in the treatment of superficial femoral artery stenosis and occlusion at 30-4 Hospital. Subjects and Methods: This was a retrospective descriptive case-series study with longitudinal follow-up of 51 patients aged ≥18 years who were diagnosed with chronic, symptomatic superficial femoral artery stenosis or occlusion due to atherosclerosis (intermittent claudication refractory to medical therapy, limb-threatening ischemia) and underwent endovascular intervention at 30-4 Hospital from January 2020 to December 2024. Patients with non-atherosclerotic lesions, acute occlusion, or prior bypass/hybrid surgery were excluded. All patients underwent balloon angioplasty with or without stent placement. Technical success, clinical success (ankle-brachial index [ABI], Rutherford classification), and duplex ultrasound of lower limb arteries were assessed at discharge and at 3, 6, and 12 months. Data were analyzed using SPSS 16.0; p<0.05 was considered statistically significant. Results: Fifty-one patients (mean age 71.3 years; 74.5% male, the majority with severe limb ischemia, predominantly TASC II C–D lesions) underwent endovascular intervention with a technical success rate of 100%, perioperative complication rate of 11.7%, and no deaths. ABI increased from approximately 0.6 to 0.9 after intervention, remained 0.9 at 3–6 months, and was 0.8 at 12 months; patency and clinical improvement were high during the first 6 months but decreased to about 55% at 12 months. Twelve-month outcomes were clearly better in TASC II A–B lesions and in the group treated with balloon angioplasty plus stent placement compared with balloon angioplasty alone. Conclusion: Endovascular intervention for superficial femoral artery stenosis and occlusion at 30-4 Hospital achieved a very high technical success rate, was safe, and provided marked improvement in limb perfusion and clinical symptoms in the short and mid-term. Mid-term durability depended on lesion complexity (TASC II) and treatment strategy, with balloon angioplasty plus stent placement yielding more sustained results than balloon angioplasty alone. DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.26
PDF

Tài liệu tham khảo

Quy định về Giấy phép Công khai cho các Tác phẩm được Xuất bản

 

1. Tuyên bố chung

Tạp chí [Tên Tạp chí] cam kết thúc đẩy sự phát triển và lan tỏa tri thức khoa học một cách cởi mở nhất. Để thực hiện sứ mệnh này, tất cả các bài viết được xuất bản trên tạp chí đều được phát hành theo các điều khoản của giấy phép công khai Creative Commons (CC).

Việc áp dụng giấy phép này cho phép tác giả giữ bản quyền đối với tác phẩm của mình, đồng thời trao cho cộng đồng quyền tự do sử dụng, chia sẻ và xây dựng dựa trên tác phẩm đó một cách hợp pháp và rõ ràng, góp phần thúc đẩy tối đa hóa tác động của nghiên cứu.

2. Giới thiệu về Giấy phép Creative Commons (CC)

Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu cung cấp một bộ công cụ pháp lý (giấy phép) tiêu chuẩn, miễn phí để các nhà sáng tạo có thể chia sẻ tác phẩm của mình. Thay vì mô hình "bảo lưu mọi quyền" (All Rights Reserved) truyền thống, giấy phép CC hoạt động theo mô hình "bảo lưu một số quyền" (Some Rights Reserved).

Các giấy phép CC bao gồm các thành tố cốt lõi sau:

  • BY (Ghi công - Attribution): Người dùng phải ghi công (nêu tên) tác giả gốc một cách thích hợp. Đây là điều kiện bắt buộc trong tất cả các giấy phép CC.

  • NC (Phi thương mại - NonCommercial): Người dùng không được sử dụng tác phẩm cho các mục đích thương mại.

  • ND (Không phái sinh - NoDerivatives): Người dùng có thể sao chép và phân phối tác phẩm ở định dạng nguyên bản, nhưng không được phép sửa đổi, phối lại hay tạo ra tác phẩm phái sinh.

  • SA (Chia sẻ tương tự - ShareAlike): Nếu người dùng phối lại, chuyển thể tác phẩm, họ phải phân phối tác phẩm mới của mình dưới cùng một giấy phép với tác phẩm gốc.

3. Các loại giấy phép được áp dụng tại Tạp chí

Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch  áp dụng loại

Giấy phép Ghi công Creative Commons 4.0 (CC BY 4.0)

Để khuyến khích để tối đa hóa sự phổ biến và sử dụng lại các công trình khoa học.

  • Người dùng được phép:

    • Chia sẻ: Sao chép và phân phối lại tác phẩm trên bất kỳ phương tiện và định dạng nào.

    • Phối lại: Phối lại, chuyển thể và xây dựng dựa trên tác phẩm cho bất kỳ mục đích nào, kể cả mục đích thương mại.

  • Với điều kiện:

    • Phải Ghi công (BY): Bạn phải ghi công tác giả một cách thích hợp, cung cấp một đường dẫn tới giấy phép, và cho biết nếu tác phẩm đã có sự thay đổi.

  •  

4. Trách nhiệm của Tác giả và Người dùng

  • Đối với Tác giả: Khi nộp bản thảo cho Tạp chí [Tên Tạp chí], tác giả đồng ý rằng nếu bài viết được chấp nhận xuất bản, nó sẽ được phát hành theo giấy phép [Ví dụ: CC BY 4.0] mà tạp chí áp dụng. Tác giả vẫn là người giữ bản quyền gốc.

  • Đối với Người dùng: Người dùng có trách nhiệm kiểm tra và tuân thủ các điều khoản của giấy phép được áp dụng cho mỗi bài viết. Việc ghi công tác giả là yêu cầu bắt buộc và cần được thực hiện đúng cách.

Cách ghi công chuẩn:

Khi sử dụng hoặc trích dẫn lại một tác phẩm, bạn nên ghi công như sau:

"[Tên bài viết]" của [Tên các tác giả], được cấp phép dưới [Tên giấy phép, ví dụ: CC BY 4.0]. Nguồn: Tạp chí [Tên Tạp chí], Tập [X], Số [Y], trang [Z], (Năm xuất bản). DOI: [Link DOI của bài báo].