Logo Xem trang đào tạo trực tuyến arrow1
space
 Abces phổi

Abces phổi

Áp xe phổi là một ổ hoại tử có mủ trong nhu mô phổi, thường hình thành do nhiễm trùng vi khuẩn.

Trên hình ảnh X-quang hoặc CT ngực, áp xe phổi thường biểu hiện các dấu hiệu đặc trưng như:

  • Mực nước hơi: Đây là dấu hiệu kinh điển, biểu hiện sự hiện diện của một khối dịch (mủ) và một phần khí phía trên, với ranh giới rõ ràng theo trọng lực.
  • Thành ổ áp xe dày: Thành của khoang áp xe thường dày và không đều.
  • Vị trí: Thường gặp ở các phân thùy sau của thùy trên và phân thùy trên của thùy dưới, đặc biệt ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ hít sặc.

Áp xe phổi có thể là hậu quả của nhiều nguyên nhân khác nhau. Do đó, việc theo dõi và chẩn đoán chi tiết là cần thiết để xác định căn nguyên và xây dựng phác đồ điều trị phù hợp. Các căn nguyên thường gặp bao gồm:

  • Hít sặc (Aspiration): Đây là nguyên nhân phổ biến nhất, đặc biệt ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ như rối loạn nuốt, giảm ý thức (do rượu, thuốc an thần, gây mê), trào ngược dạ dày thực quản. Vi khuẩn từ khoang miệng-họng (thường là vi khuẩn kỵ khí) bị hít vào phổi.
  • Biến chứng của viêm phổi: Một số trường hợp viêm phổi nặng, đặc biệt do vi khuẩn sinh mủ (ví dụ: Staphylococcus aureus, Klebsiella pneumoniae), có thể tiến triển thành áp xe.
  • Tắc nghẽn phế quản: Do khối u, dị vật, hoặc hạch chèn ép, gây ứ đọng dịch tiết và nhiễm trùng thứ phát.
  • Nhiễm trùng huyết: Vi khuẩn từ một ổ nhiễm trùng xa theo đường máu đến phổi và tạo thành áp xe (áp xe phổi do di căn).
  • Nhiễm trùng nấm hoặc ký sinh trùng: Ít gặp hơn nhưng có thể gây ra các tổn thương dạng áp xe.

Khi đánh giá các tổn thương dạng hang/khoang trong phổi, việc phân tích thành phần dịch bên trong có thể gợi ý nguyên nhân:

  • Dịch là mủ: Gợi ý mạnh mẽ nhiễm khuẩn sinh mủ (áp xe phổi do vi khuẩn). Các vi khuẩn kỵ khí là tác nhân hàng đầu, nhưng cũng có thể do vi khuẩn hiếu khí như Staphylococcus aureus, Klebsiella pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa.
  • Dịch là bã đậu/hoại tử bã đậu: Đặc trưng của bệnh lao (Mycobacterium tuberculosis) hoặc một số bệnh nấm (ví dụ: Aspergillosis xâm lấn). Mặc dù có thể tạo hang, tổn thương lao thường có thành mỏng hơn và quá trình hoại tử bã đậu khác với quá trình tạo mủ điển hình của áp xe.
  • Dịch là máu hoặc có lẫn máu: Có thể gặp trong nhiều tình huống khác nhau và không phải là áp xe điển hình (áp xe là ổ mủ). Các nguyên nhân cần xem xét bao gồm:
    • Khối u ác tính hoại tử: Đặc biệt là ung thư biểu mô tế bào vảy, có thể tạo hang và chảy máu.
    • Nhồi máu phổi nhiễm trùng: Do tắc mạch phổi và nhiễm trùng thứ phát.
    • Viêm mạch máu (Vasculitis): Ví dụ như bệnh u hạt với viêm đa mạch (GPA - Granulomatosis with Polyangiitis).
    • Nấm phổi: Một số loại nấm có thể gây tổn thương hoại tử và chảy máu.
    • Chấn thương phổi: Gây tụ máu trong nhu mô.

Chẩn đoán và Điều trị:

Chẩn đoán áp xe phổi dựa vào lâm sàng (sốt, ho khạc đờm mủ, đau ngực, sụt cân), hình ảnh học (X-quang, CT ngực), và xét nghiệm vi sinh (cấy đờm, cấy máu, dịch phế quản qua nội soi). Điều trị chủ yếu là kháng sinh kéo dài (thường 4-6 tuần hoặc hơn), lựa chọn kháng sinh dựa trên phổ vi khuẩn nghi ngờ hoặc kết quả kháng sinh đồ. Trong một số trường hợp, cần dẫn lưu áp xe qua da hoặc phẫu thuật.

Tải về tài liệu chính .....(xem tiếp)

🏥 Phòng khám Đa khoa ĐHYK Phạm Ngọc Thạch

Khám chữa bệnh đa khoa • Bác sĩ đầu ngành • Trang thiết bị hiện đại

📋 Đặt lịch khám →


Phụ trách chuyên môn TS Võ Thành Liêm (thanhliem.vo@gmail.com)

space