Tư thế chụp X-quang ngực nghiêng
Bệnh nhân áp sát thành ngực bên cần khảo sát vào tấm nhận ảnh. Để khảo sát các bất thường ở tim, bệnh nhân được chụp ở tư thế nghiêng trái (nhằm đưa thành ngực trái gần tấm nhận ảnh nhất). Trong trường hợp nghi ngờ bệnh lý phổi ở một bên, bệnh nhân được chụp ở tư thế sao cho phổi bên đó gần tấm nhận ảnh nhất. Mặt phẳng dọc giữa của bệnh nhân song song với tấm nhận ảnh, và mặt phẳng ngang qua hai vai vuông góc với tấm nhận ảnh, nhằm đảm bảo không có sự xoay của thân người (dấu hiệu nhận biết là sự chồng lên nhau của các cung sườn sau). Hai chân bệnh nhân dang nhẹ để giữ thăng bằng. Hai tay bệnh nhân đưa lên cao, ôm lấy đầu hoặc bắt chéo trên đầu, nhằm tách xương cánh tay ra khỏi trường phổi (Hình 1.7). Tia trung tâm được chiếu vuông góc với tấm nhận ảnh, đi qua trung điểm giữa đường da trước và đường da sau, ngang mức đốt sống ngực T7-T8 (hoặc ngang góc dưới xương bả vai). Phim được chụp ở cuối thì hít vào sâu.
Tiêu chuẩn đánh giá phim chụp:
1. Thân người ở tư thế thẳng đứng.
2. Xương cánh tay không chồng lên trường phổi.
3. Các cung sườn sau chồng lên nhau.
Đặc điểm phim chụp đạt yêu cầu:
- Toàn bộ trường phổi được thấy rõ từ đỉnh phổi đến góc sườn hoành.
- Xương cánh tay không chồng lên trường phổi.
- Không có sự xoay thân người (thể hiện qua sự chồng lên nhau của các cung sườn sau).
- Các cung sườn sau của hai bên chồng lên nhau.
- Các cấu trúc mạch máu được thấy rõ ở khoảng sáng sau tim.


Hai vòm hoành có thể được nhìn thấy riêng biệt.
Bóng hơi dạ dày dưới vòm hoành trái.
Một phần ba trước của vòm hoành trái có thể bị xóa mờ do bóng tim.

Hai vòm hoành thường không chồng lên nhau hoàn toàn. Trong tư thế nghiêng trái (thường được sử dụng), vòm hoành trái (gần tấm nhận ảnh) thường có vị trí thấp hơn và sắc nét hơn, do bóng tim đè lên và ít bị phóng đại. Vòm hoành phải (xa tấm nhận ảnh) thường có vị trí cao hơn và có thể bị phóng đại nhẹ, đồng thời có độ mờ hơn. Sự khác biệt về độ cao giải phẫu và khoảng cách đến tấm nhận ảnh khiến chúng xuất hiện tách biệt trên phim.