Các phương pháp bảng sống trên tập trung vào tử vong, nhưng nhiều bệnh (viêm khớp, hen suyễn) có tỷ lệ mắc cao, gây bệnh tật đáng kể nhưng hiếm khi gây chết. Trong những năm gần đây, tầm quan trọng của bệnh tật đối với sức khỏe cộng đồng ngày càng được nhận thức rõ: kéo dài tuổi thọ không đồng nghĩa với cải thiện chất lượng cuộc sống. Phần này trình bày ứng dụng bảng sống để mô tả bệnh tật trong quần thể.
13.4.1 Xác suất mắc bệnh suốt đời (Lifetime Probability of Developing a Disease)
Từ (13.8) và (13.13): dkj = RkjLj và lk(0) = tổng RkjLj theo j. Do đó xác suất chết vì nguyên nhân k suốt đời: lk(0)/l(0) = (1/l(0))·tổng RkjLj theo j (13.14).
Mở rộng (13.14) để ước tính xác suất mắc bệnh suốt đời: xây dựng OLT trong đó "tử vong" gồm hoặc mắc bệnh hoặc chết vì nguyên nhân khác; và MDLT trong đó "tử vong do nguyên nhân k" là mắc bệnh. Các lập luận này liên quan đến Zdeb (1977).
Mô hình bốn trạng thái (Hình 13.1):
- Sống không bệnh
- Sống có bệnh
- Chết vì bệnh khác
- Chết vì bệnh đang xét
Các chuyển tiếp: 1→2 (mắc bệnh), 1→3 (chết vì bệnh khác khi chưa mắc bệnh), 2→3 (chết vì bệnh khác khi đã mắc bệnh), 2→4 (chết vì bệnh đang xét). Không có chuyển tiếp 2→1 (bệnh xem như mắc suốt đời). Tại sinh, mọi cá thể đều không mắc bệnh (trạng thái 1).
Ước tính: Gọi Ikj là số ca mắc mới (incident) trong quần thể ở nhóm j, Pjk là số ca hiện mắc (prevalent) giữa năm. Tỷ suất mắc mới: R12_j = Ikj/(Nj − Pjk). Giả định người có và không có bệnh có cùng tỷ suất tử vong cho các nguyên nhân khác: R13_j = R23_j = R(•k)j = D(•k)j/Nj.
Tỷ suất nguy cơ "tổng thể": R*_j = Ikj/(Nj − Pjk) + D(•k)j/Nj (13.15). Tỷ suất "đặc trưng theo nguyên nhân": Rk*_j = Ikj/(Nj − Pjk) (13.16). Xác suất mắc bệnh suốt đời: lk*(0)/l*(0) = (1/l*(0))·tổng Rk*_j L*_j theo j.
Trong thực tế, khó ước tính số ca hiện mắc. Nếu bệnh không quá phổ biến, có thể bỏ qua hiện mắc (Pjk = 0) mà ít sai lệch, khi đó: R*_j = (Ikj + D(•k)j)/Nj (13.17) và Rk*_j = Ikj/Nj (13.18). Các mô hình đa trạng thái phức tạp hơn có sẵn (Chiang, 1968, 1980; Keiding, 1991).
Ví dụ 13.5 (Ung thư vú: Canada, Nữ, 1991): Với giả định quần thể dừng, dùng (13.15)-(13.16): 10,92% nữ sinh năm 1991 sẽ mắc ung thư vú và 4,06% chết vì bệnh này → 37,18% người mắc ung thư vú cuối cùng tử vong vì nó. Dùng (13.17)-(13.18): xác suất mắc suốt đời là 10,78% (sai lệch không đáng kể so với có hiệu chỉnh hiện mắc).
13.4.2 Tuổi thọ không tàn tật (Disability-Free Life Expectancy)
Gọi pi_j là tỷ lệ quần thể ở nhóm tuổi j có tình trạng tàn tật nhất định tại một thời điểm, và Lj là số người-năm từ OLT (Mục 13.1). Xấp xỉ: pi_j·Lj là số người-năm đoàn hệ OLT sống trong trạng thái tàn tật ở nhóm j. Tổng số người-năm tàn tật sau tuổi xj: tổng pi_i·Li từ i=j đến J. Số năm trung bình không tàn tật sau tuổi xj:
e'(xj) = [T(xj) − tổng pi_i·Li] / l(xj) = e(xj) − (1/l(xj))·tổng pi_i·Li
— gọi là tuổi thọ không tàn tật (disability-free life expectancy) tại tuổi xj (Sullivan, 1971; Newman, 1988). Có thể dùng bảng sống đa trạng thái để ước tính tinh vi hơn, nhưng dữ liệu cần thiết thường không có sẵn.
Ví dụ 13.6 (Sa sút trí tuệ - Dementia: Canada, Nam, 1991): Bảng 13.9 cho tỷ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ theo tuổi từ khảo sát quốc gia (CSHA Working Group, 1994). Kết hợp với hàm OLT từ Bảng 13.4: Tuổi thọ tại 65 là e(65) = 15,66. Tuổi thọ không sa sút trí tuệ tại 65: e'(65) = 14,34. Trung bình, (15,66−14,34)/15,66 = 8,43% cuộc sống sau 65 tuổi sống trong tình trạng sa sút trí tuệ.
(Nguồn: Newman SC. Biostatistical Methods in Epidemiology. Wiley, 2001. Chương 13, tr.263-280.)