9.1 Ước lượng Kaplan-Meier (Product-Limit) của Hàm Sống còn
Xét một nghiên cứu thuần tập mở (open cohort study) với r đối tượng và các quan sát (t1, δ1), …, (ti, δi), …, (tr, δr). Chúng ta giả định ti > 0 với mọi i, đảm bảo rằng mỗi thành viên của thuần tập được theo dõi ít nhất một khoảng thời gian nhỏ. Trong chương này, thời gian sống không bị kiểm duyệt — tức là những thời điểm xảy ra sự kiện chết — sẽ được gọi là thời điểm tử vong (death times).
Giả sử trong số r thời gian sống có J thời điểm tử vong: τ1 < … < τj < … < τJ. Đặt τ0 = 0 và ký hiệu thời gian sống tối đa là τJ+1, nghĩa là τJ+1 = max(t1, t2, …, tr). Cách tiếp cận Kaplan-Meier đối với dữ liệu sống còn bị kiểm duyệt bắt đầu bằng cách phân chia thời gian theo dõi thành J+1 khoảng sử dụng các thời điểm tử vong làm điểm cắt: [τ0, τ1), [τ1, τ2), …, [τj, τj+1), …, [τJ-1, τJ), [τJ, τJ+1], trong đó khoảng cuối cùng chứa τJ+1. Chúng ta gọi [τj, τj+1) là khoảng thứ j.
Gọi aj là số ca tử vong tại τj và cj là số quan sát bị kiểm duyệt trong khoảng thứ j (j = 0, 1, …, J). Theo định nghĩa, a0 = 0.
Định nghĩa Tập hợp Nguy cơ (Risk Set)
Nhóm đối tượng "có nguy cơ" (at risk) tại τj, còn được gọi là tập hợp nguy cơ thứ j (jth risk set), bao gồm những cá nhân có thời gian sống lớn hơn hoặc bằng τj (j = 0, 1, …, J). Tập hợp nguy cơ thứ j bao gồm ba loại cá nhân: những người sống sót qua τj, những người bị kiểm duyệt tại τj, và những người tử vong tại τj. Việc định nghĩa hai nhóm đối tượng đầu tiên là có nguy cơ tại τj là hợp lý vì, nếu tử vong xảy ra, nó sẽ xảy ra sau τj. Tuy nhiên, việc bao gồm các đối tượng tử vong tại τj trong tập hợp nguy cơ là không trực quan. Quy ước này có nguồn gốc từ sự phát triển lý thuyết của phương pháp Kaplan-Meier, có thể được xem như một trường hợp giới hạn của phương pháp Actuarial sẽ được thảo luận dưới đây.
Gọi rj là số đối tượng trong tập hợp nguy cơ thứ j (j = 0, 1, …, J), và ký hiệu rJ+1 là số đối tượng sống sót đến τJ+1. Lưu ý rằng cJ bao gồm rJ+1 đối tượng sống sót đến khi kết thúc nghiên cứu. Chúng ta cần tách nhóm cá nhân này khỏi những người bị kiểm duyệt vì lý do khác. Định nghĩa c'j như sau: c'j = cj với j < J, và c'J = cJ − rJ+1.
Vì các đối tượng rời khỏi thuần tập chỉ do tử vong hoặc kiểm duyệt, ta có:
rj+1 = rj − aj − c'j (9.1)
(j = 0, 1, …, J). Do đó, r0 − rJ+1 = Σ(rj − rj+1) = Σ aj + Σ c'j = a• + c'•, và vì vậy rJ+1 = r0 − a• − c'•. Đẳng thức này nói rằng số đối tượng sống sót đến cuối nghiên cứu bằng số bắt đầu trừ đi số đã tử vong hoặc bị kiểm duyệt trước τJ+1.
Công thức Ước lượng Kaplan-Meier
Chúng ta xây dựng ước lượng của S(t) dựa trên phân vùng trên và các xác suất có điều kiện nhất định. Để ngắn gọn, ta ký hiệu S(τj) là Sj sao cho S0 = 1. Với j > 0, xét khoảng [τj − ε, τj + ε), trong đó ε là số dương đủ nhỏ để đảm bảo khoảng này không chứa bất kỳ thời điểm tử vong nào khác ngoài τj hoặc bất kỳ thời điểm kiểm duyệt nào. Với j = 0, ta sử dụng khoảng [τ0, τ0 + ε) và thực hiện một số điều chỉnh hiển nhiên.
Gọi pj là xác suất có điều kiện sống sót đến τj + ε, với điều kiện đã sống sót đến τj − ε (j = 0, 1, …, J). Nghĩa là, pj là xác suất có điều kiện sống sót đến ngay sau τj, với điều kiện đã sống sót đến ngay trước τj. Gọi qj = 1 − pj là xác suất có điều kiện tương ứng của tử vong. Vì có rj đối tượng có nguy cơ tại τj − ε, và aj trong số họ tử vong trước τj + ε, các ước lượng nhị thức là:
q̂j = aj / rj (9.2)
p̂j = 1 − q̂j = (rj − aj) / rj (9.3)
(j = 0, 1, …, J). Các ước lượng này hợp lệ bất kể ε nhỏ đến đâu. Trong giới hạn, khi ε tiến về 0, [τj − ε, τj + ε) co lại thành điểm đơn τj, phù hợp với cách tiếp cận product-limit. Vì a0 = 0, suy ra q̂0 = 0 và p̂0 = 1.
Xác suất sống sót từ τ0 đến τ1 là p1. Với những người sống sót đến τ1, xác suất có điều kiện sống sót đến τ2 là p2, và do đó xác suất sống sót từ τ0 đến τ2 là S2 = p1p2. Tương tự, xác suất sống sót từ τ0 đến τ3 là S3 = p1p2p3. Tiếp tục như vậy, ta thu được xác suất Sj = p1p2…pj của việc sống sót từ τ0 đến τj (j = 1, 2, …, J). Ước lượng Kaplan-Meier của Sj là:
Ŝj = p̂1p̂2…p̂j (9.4)
(j = 1, 2, …, J). Ta định nghĩa Ŝ0 = 1 và ŜJ+1 = ŜJ. Vì không có tử vong nào trong khoảng thứ j ngoài τj, Ŝ(t) bằng Ŝj với mọi t trong khoảng đó, và do đó đồ thị của Ŝ(t) là một hàm bậc thang (step function).
Phương sai Greenwood và Khoảng tin cậy
Ước lượng của var(Ŝj) được cho bởi "Công thức Greenwood":
v̂ar(Ŝj) = (Ŝj)2 Σi=1j [q̂i / (p̂i ri)] (9.5)
và khoảng tin cậy (1−α)×100% cho Ŝj là:
[Sj, Sj] = Ŝj ± zα/2 √[v̂ar(Ŝj)]
(j = 1, 2, …, J) (Greenwood, 1926). Phép xấp xỉ chuẩn có thể được cải thiện bằng cách sử dụng biến đổi log-minus-log: log(−log Ŝj). Điều này dẫn đến ước lượng Kalbfleisch-Prentice:
v̂ar[log(−log Ŝj)] = [1 / (log Ŝj)2] Σi=1j [q̂i / (p̂i ri)]
(j = 1, 2, …, J) (Kalbfleisch và Prentice, 1980, tr. 15). Khoảng tin cậy (1−α)×100% cho Ŝj thu được từ:
[log(−log Sj), log(−log Sj)] = log(−log Ŝj) ∓ zα/2 √{v̂ar[log(−log Ŝj)]} (9.6)
bằng cách nghịch đảo biến đổi log-minus-log, như minh họa trong Ví dụ 9.1. Lưu ý dấu ∓ trong (9.6) thay vì dấu ± thông thường.
Trường hợp không có kiểm duyệt
Xem xét các ước lượng Ŝj và v̂ar(Ŝj) dưới giả định không có kiểm duyệt ngoại trừ tại τJ+1 — nghĩa là, giả định c'j = 0 (j = 0, 1, …, J). Với giả định này, (9.1) đơn giản hóa thành rj+1 = rj − aj. Từ đó ta có:
Ŝj = rj+1 / r0 (9.7)
v̂ar(Ŝj) = Ŝj(1 − Ŝj) / r0 (9.8)
Các đẳng thức (9.7) và (9.8) cho thấy khi không có kiểm duyệt ngoại trừ tại τJ+1, các ước lượng Kaplan-Meier và Greenwood đơn giản hóa thành các ước lượng dựa trên phân phối nhị thức.
Ví dụ 9.1 (Thụ thể-Sắc độ-Ung thư Vú)
Dữ liệu trong Bảng 9.1 dựa trên thuần tập gồm 199 bệnh nhân ung thư vú được mô tả trong Ví dụ 4.2. Những cá nhân này là một mẫu ngẫu nhiên từ các bệnh nhân đăng ký tại Northern Alberta Breast Cancer Registry trong năm 1985. Trong ví dụ này, thuần tập được theo dõi đến cuối năm 1989. Do đó, thời gian quan sát tối đa dao động từ 4 đến 5 năm tùy thuộc vào ngày đăng ký. Thời gian sống được định nghĩa là khoảng thời gian từ khi đăng ký đến khi tử vong do ung thư vú hoặc bị kiểm duyệt. Thời gian sống được tính đến ngày chính xác nhất và sau đó làm tròn lên đến tháng gần nhất để đảm bảo ít nhất một vài đối tượng có cùng thời gian sống. Thời gian sống tối đa là 60 tháng.
Bảng 9.2 đưa ra các ước lượng Kaplan-Meier của xác suất sống còn cùng với khoảng tin cậy 95% Kalbfleisch-Prentice. Bước đầu tiên trong việc tạo Bảng 9.2 là liệt kê các thời điểm tử vong theo thứ tự tăng dần và đếm số ca tử vong tại mỗi thời điểm. Thời điểm tử vong đầu tiên là τ1 = 9 với số ca tử vong a1 = 3. Tổng cộng, có 30 thời điểm tử vong riêng biệt và 49 ca tử vong trong thuần tập.
Hình 9.2 cho thấy đường cong sống còn Kaplan-Meier và khoảng tin cậy 95% Kalbfleisch-Prentice cho thuần tập ung thư vú. Có 7 ca tử vong do nguyên nhân khác ngoài ung thư vú, và những ca này được xử lý như các quan sát bị kiểm duyệt. Ngay cả khi giả định kiểm duyệt không chứa thông tin, sẽ là không chính xác nếu diễn giải Ŝj như là ước lượng của xác suất không tử vong vì ung thư vú trước τj. Diễn giải đúng đắn phải kèm theo lưu ý rằng ung thư vú được giả định là nguyên nhân tử vong duy nhất.
(Nguồn: Newman SC. Biostatistical Methods in Epidemiology. Wiley, 2001. tr.171-177.)