Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ISSN 2815-6366 Truy cập mở Phản biện kín hai chiều
Biểu trưng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Tiến triển của EGFR ở người đái tháo đường típ 2 sau 5 năm
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch
Pham Ngoc Thach Medical and Pharmaceutical Journal · ISSN 2815-6366
PDF (vietnamien)

Mots-clés

Đái tháo đường típ 2
tốc độ giảm eGFR

Comment citer

Tiến triển của EGFR ở người đái tháo đường típ 2 sau 5 năm. (2026). Tạp Chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch, 2(3). https://bsgdtphcm.vn/ojs/index.php/pnt/article/view/536

Résumé

Mục tiêu: Khảo sát tốc độ giảm độ lọc cầu thận ước tính (eGFR) ở người bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2 ít nhất 5 năm. Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ quan sát trên 467 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 tại bệnh viện quận 10 (thành phố Hồ Chí Minh). Có 439 BN được theo dõi từ 3 - 5 năm. Thử creatinin ít nhất hai lần trong năm và ước tính eGFR theo công thức CKD - EPI. Giảm eGFR < 1 ml/ph/1,73 m2 được xem là không tiến triển và giảm ≥ 4 ml/ph/1,73m2 là giảm nhanh eGFR. Kết quả: Người bệnh tham gia có tuổi trung bình 61,7 và nữ nhiều hơn (67,5%). Có 35 người (7,5%) có eGFR < 60 ml/ph tại thời điểm thu dung. Trong thời gian theo dõi, 221 người (50,3%) có tốc độ giảm eGFR hàng năm lớn hơn 1ml/ph/1,73 m2 và 16% BN giảm nhanh eGFR. Tốc độ giảm eGFR trung bình hàng năm của toàn mẫu là -1,4 ml/ph/1,73 m2, không khác nhau ở hai giới hay theo các mức BMI, eGFR ban đầu và bệnh võng mạc ĐTĐ nhưng eGFR giảm nhanh ở người có albumin niệu lượng nhiều (-2,7 ml/ph/ năm so với 1,6 và 1,2 ml/ph, p = 0,04). eGFR tiến triển rất thay đổi trong 5 năm bất luận eGFR ban đầu, ngoại trừ người bệnh thận giai đoạn 4 có eGFR tiếp tục giảm nhanh. Kết luận: Tốc độ giảm eGFR hàng năm giúp các bác sĩ dự đoán tốt tiến triển của bệnh thận mạn hơn trị số eGFR ban đầu. Nhận biết sớm người có giảm nhanh eGFR rất cần thiết cho việc đánh giá mức độ bệnh và theo dõi đáp ứng điều trị. Abstract Aims: This study examined the decline rate of estimated glomerular filtration rate (eGFR) in patients who had type 2 diabetes (T2MD) for at least 5 years. Methods: A observational cohort study was conducted on 467 outpatients in a community - based hospital in Ho Chi Minh City. We followed 439 T2MD for 3 to 5 years. Serum creatinine was annually tested twice, on two occasions at least 3 months apart. The eGFR was estimated by the CKD-EPI equation. We defined subjects with an annual decline rate ≤ 1 ml/min/1.73 m2 as non - progression and a decline rate of at least 4 ml/min/1.73 m2 as rapid progression. Results: Most patients were female (67.5%) with a mean age of 61.7 years. The prevalence of decreased eGFR was 7.5% (n = 35). During the follow - up period, 221 (50.3%) individuals had an annual decline rate greater than 1 ml/min/1.73 m2, and a rapid decline of eGFR was found in 16.0% of patients. The mean decline rate of eGFR was -1.4 ml/min/1.73 m2/year, and not different among sex, BMI, baseline eGFR, and diabetic retinopathy. The eGFR decline rate was faster in patients with severe albuminuria than in the normal or moderate albuminuria groups (-2.7 ml/min vs. 1.2 and 1.6 ml/min, p = 0.04). Progression of eGFR showed many changes irrespective of the baseline eGFR except that the G4 subgroup (baseline eGFR < 30 ml/min) continuously decreased. Conclusions: An absolute annual eGFR decline rate can help clinicians predict the progression of chronic kidney disease better than eGFR levels. Early recognition of individuals with rapid loss of renal function is definitely important in chronic kidney disease care. DOI: 10.59715/pntjmp.2.3.22
PDF (vietnamien)

Références

Quy định về Giấy phép Công khai cho các Tác phẩm được Xuất bản

 

1. Tuyên bố chung

Tạp chí [Tên Tạp chí] cam kết thúc đẩy sự phát triển và lan tỏa tri thức khoa học một cách cởi mở nhất. Để thực hiện sứ mệnh này, tất cả các bài viết được xuất bản trên tạp chí đều được phát hành theo các điều khoản của giấy phép công khai Creative Commons (CC).

Việc áp dụng giấy phép này cho phép tác giả giữ bản quyền đối với tác phẩm của mình, đồng thời trao cho cộng đồng quyền tự do sử dụng, chia sẻ và xây dựng dựa trên tác phẩm đó một cách hợp pháp và rõ ràng, góp phần thúc đẩy tối đa hóa tác động của nghiên cứu.

2. Giới thiệu về Giấy phép Creative Commons (CC)

Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu cung cấp một bộ công cụ pháp lý (giấy phép) tiêu chuẩn, miễn phí để các nhà sáng tạo có thể chia sẻ tác phẩm của mình. Thay vì mô hình "bảo lưu mọi quyền" (All Rights Reserved) truyền thống, giấy phép CC hoạt động theo mô hình "bảo lưu một số quyền" (Some Rights Reserved).

Các giấy phép CC bao gồm các thành tố cốt lõi sau:

  • BY (Ghi công - Attribution): Người dùng phải ghi công (nêu tên) tác giả gốc một cách thích hợp. Đây là điều kiện bắt buộc trong tất cả các giấy phép CC.

  • NC (Phi thương mại - NonCommercial): Người dùng không được sử dụng tác phẩm cho các mục đích thương mại.

  • ND (Không phái sinh - NoDerivatives): Người dùng có thể sao chép và phân phối tác phẩm ở định dạng nguyên bản, nhưng không được phép sửa đổi, phối lại hay tạo ra tác phẩm phái sinh.

  • SA (Chia sẻ tương tự - ShareAlike): Nếu người dùng phối lại, chuyển thể tác phẩm, họ phải phân phối tác phẩm mới của mình dưới cùng một giấy phép với tác phẩm gốc.

3. Các loại giấy phép được áp dụng tại Tạp chí

Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch  áp dụng loại

Giấy phép Ghi công Creative Commons 4.0 (CC BY 4.0)

Để khuyến khích để tối đa hóa sự phổ biến và sử dụng lại các công trình khoa học.

  • Người dùng được phép:

    • Chia sẻ: Sao chép và phân phối lại tác phẩm trên bất kỳ phương tiện và định dạng nào.

    • Phối lại: Phối lại, chuyển thể và xây dựng dựa trên tác phẩm cho bất kỳ mục đích nào, kể cả mục đích thương mại.

  • Với điều kiện:

    • Phải Ghi công (BY): Bạn phải ghi công tác giả một cách thích hợp, cung cấp một đường dẫn tới giấy phép, và cho biết nếu tác phẩm đã có sự thay đổi.

  •  

4. Trách nhiệm của Tác giả và Người dùng

  • Đối với Tác giả: Khi nộp bản thảo cho Tạp chí [Tên Tạp chí], tác giả đồng ý rằng nếu bài viết được chấp nhận xuất bản, nó sẽ được phát hành theo giấy phép [Ví dụ: CC BY 4.0] mà tạp chí áp dụng. Tác giả vẫn là người giữ bản quyền gốc.

  • Đối với Người dùng: Người dùng có trách nhiệm kiểm tra và tuân thủ các điều khoản của giấy phép được áp dụng cho mỗi bài viết. Việc ghi công tác giả là yêu cầu bắt buộc và cần được thực hiện đúng cách.

Cách ghi công chuẩn:

Khi sử dụng hoặc trích dẫn lại một tác phẩm, bạn nên ghi công như sau:

"[Tên bài viết]" của [Tên các tác giả], được cấp phép dưới [Tên giấy phép, ví dụ: CC BY 4.0]. Nguồn: Tạp chí [Tên Tạp chí], Tập [X], Số [Y], trang [Z], (Năm xuất bản). DOI: [Link DOI của bài báo].