Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ISSN 2815-6366 Truy cập mở Phản biện kín hai chiều
Biểu trưng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Tuân thủ điều trị ở thai phụ có thai nhi bị tim bẩm sinh được quản lý giữa Bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố và Bệnh viện Hùng Vương
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch
Pham Ngoc Thach Medical and Pharmaceutical Journal · ISSN 2815-6366
PDF (vietnamien)

Mots-clés

Tuân thủ điều trị
tim bẩm sinh bào thai

Danh mục

Comment citer

Tuân thủ điều trị ở thai phụ có thai nhi bị tim bẩm sinh được quản lý giữa Bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố và Bệnh viện Hùng Vương. (2022). Tạp Chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch, 1(1). https://bsgdtphcm.vn/ojs/index.php/pnt/article/view/31

Résumé

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở thai phụ có thai nhi bị tim bẩm sinh được quản lý giữa bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố và bệnh viện Hùng Vương Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang mô tả và phân tích thai phụ có thai nhi bị tim bẩm sinh được chẩn đoán bằng siêu âm tim thai tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Hùng Vương do bác sĩ tim mạch Bệnh Viện Nhi Đồng Thành Phố thực hiện từ tháng 05/2018 đến tháng 02/2021 Kết quả: Từ tháng 5/2018 đến tháng 2/2021, đã có 399 thai phụ có thai nhi bị tim bẩm sinh được đưa vào nghiên cứu. Đặc điểm dân số xã hội của đối tượng nghiên cứu: Tuổi thai phụ trung bình là 29,2 ± 5,9 tuổi. Đa số thai phụ sống ở Thành phố Hồ Chí Minh (74,9%) và có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên (75,9%). Công nhân chiếm đa số (76,4%). 56 trường hợp (14%) có theo tôn giáo. Đặc điểm thai kỳ của đối tượng nghiên cứu: Tuổi thai: tuổi thai trung bình khi thai nhi được phát hiện có bệnh TBS là 27,8 ± 5,6 tuần. 30,1% thai nhi được hội chẩn là bị tim bẩm sinh phức tạp. Có 48 trường hợp (12%) có dị tật ngoài tim kèm theo. 82 trường hợp tử vong trong giai đoạn bào thai (20,6%), trong đó 59 trường hợp là do chấm dứt thai kỳ. Đa số đối tượng nghiên cứu có kết cục tốt (88,5%). Đặc điểm tuân thủ điều trị của đối tượng nghiên cứu: tuân thủ tái khám: 97%, tuân thủ xét nghiệm: 89,7%, tuân thủ xử lý thai kỳ: 94%, tuân thủ nơi sinh: 92,4%, tuân thủ phương thức sinh: 94,3%, tuân thủ bệnh viện chuyển đến sau sinh:76,1%. Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu: Tuân thủ tái khám kém ở nhóm tuổi thai nhỏ (p=0,039), nhóm tử vong bào thai và chấm dứt thai kỳ (p=0,000). Tuân thủ xét nghiệm kém ở nhóm theo tôn giáo (p=0,000). Tuân thủ xử lý thai kỳ kém ở nhóm theo tôn giáo (p=0,001), tim bẩm sinh nặng và tử vong bào thai (p=0,000). Tuân thủ nơi sinh kém ở nhóm có dị tật kèm theo (p=0,031). Tuân thủ phương thức sinh kém ở nhóm có tật TBS nặng (p=0,001). Tuân thủ bệnh viện chuyển đến sau sinh kém ở những năm đầu hội chẩn (p=0,000). Kết luận: Đa số thai phụ có thai nhi bị tim bẩm sinh tuân thủ điều trị tốt (>90%). Các thai phụ này tuân thủ kém hơn ở lĩnh vực xét nghiệm và bệnh viện chuyển đến sau sinh. Các yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị gồm: tuổi thai nhỏ, tật tim bẩm sinh nặng, theo tôn giáo, và tử vong bào thai.

PDF (vietnamien)

Références

Creative Commons License

Ce travail est disponible sous licence Creative Commons Attribution - Pas d'Utilisation Commerciale - Pas de Modification 4.0 International.

Merci de créditer les auteurs lors de toute citation : tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch (2023)