Abstract
Đặt vấn đề: Mục tiêu của nghiên cứu nhằm so sánh kết quả sớm phẫu thuật cắt trĩ phương pháp Milligan Morgan bằng dao siêu âm và dao đốt điện đơn cực. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu. Từ tháng 6/2023 đến tháng 8/2023 chúng tôi tiến hành phẫu thuật cắt trĩ theo phương pháp Milligan Morgan bằng dao siêu âm và dao đốt điện đơn cực tại bệnh viện Bình Dân. Kết quả: Trong thời gian 2 tháng, có 30 bệnh nhân được phẫu thuật cắt trĩ theo phương pháp Milligan Morgan bằng dao siêu âm và đốt điện trong mỗi nhóm. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi (P = 0,50) và giới tính (P = 0,196), nghề nghiệp (P = 0,96), các đặc điểm lâm sàng trước mổ như hct (P= 0,861), thời gian mắc bệnh (P = 0,583), tiền sử điều trị (P = 0,642), yếu tố thuận lợi (P = 0,795), chẩn đoán giữa 2 nhóm (P = 0,947). Thời gian mổ cắt trĩ bằng dao siêu âm ngắn hơn đốt điện 23,40 ± 5,80 phút và 38,17±9,69 phút (P = 0,000), lượng máu mất ít hơn ở nhóm dùng dao siêu âm 11,07 ± 7,26 và 19,50 ± 9,77 (P = 0,000), mức độ đau sau mổ nhiều hơn ở nhóm đốt điện ( P < 0,05). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến chứng sau mổ và thời gian nằm viện giữa 2 nhóm sau mổ. Thời gian lành vết thương dài hơn ở nhóm bệnh nhân đốt điện (P = 0,001). Kết luận: So sánh kết quả ban đầu giữa dao siêu âm và dao đốt điện đơn cực dùng để cắt trĩ độ III, IV, hỗn hợp theo phương pháp Milligan - Morgan, chúng tôi nhận thấy kỹ thuật và phương tiện này thực hiện rất dễ dàng, hiệu quả cao và ít biến chứng hơn so với sử dụng dao đốt điện đơn cực. Với các ưu điểm nổi bật nêu trên của dao siêu âm, chúng tôi nhận thấy khi sử dụng dao siêu âm trong phẫu thuật cắt trĩ là rất khả thi và đóng góp hữu hiệu trong điều trị bệnh trĩ tại Việt Nam. Abstract Objective: The objective of the study is to compare the early results of Milligan Morgan hemorrhoidectomy surgery using ultrasound scalpel and monopolar electrocautery. Subjects and Methods: Prospective cohort study. From June 2023 to August 2023, we performed hemorrhoidectomy surgery according to the Milligan Morgan method using an ultrasound scalpel and monopolar electrocautery at Binh Dan hospital. Results: During a 2 - month period, 30 patients underwent hemorrhoidectomy according to the Milligan Morgan method with ultrasound scapel and monopolar electrocautery in each group. There were no statistically significant differences in age (P = 0.50) and gender (P = 0.196), occupation (P = 0.96), and preoperative clinical characteristics such as hct (P = 0.861), duration of disease (P = 0.583), treatment history (P = 0.642), favorable factors (P = 0.795), diagnosis between 2 groups (P = 0.947). Time to hemorrhoidectomy with ultrasound scalpel is shorter than monopolar electrocautery 23.40 ± 5.80 minutes and 38.17 ± 9.69 minutes (P = 0.000), blood loss is less in the group using ultrasound scalpel 11.07 ± 7.26 and 19 ± 9.77 minutes (P = 0.000), the level of postoperative pain was higher in the electrocautery group (P < 0.05). There was no statistically significant difference in postoperative complications and hospital stay between the 2 groups after surgery. Wound healing time was longer in the monopolar electrocautery patient group (P = 0.001). Conclusion: Comparing the initial results between the ultrasonic scalpel and the monopolar electrocautery knife used to cut grade III, IV, mixed hemorrhoids according to the Milligan - Morgan method, we found that this technique and means perform very well, easily, highly effective and less complicated than using monopolar electrocautery knife. With the above outstanding advantages of the ultrasonic scalpel, we find that using the ultrasonic scalpel in hemorrhoidectomy is very feasible and makes an effective contribution to the treatment of hemorrhoids in Vietnam. DOI: 10.59715/pntjmp.3.1.21References
Quy định về Giấy phép Công khai cho các Tác phẩm được Xuất bản
1. Tuyên bố chung
Tạp chí [Tên Tạp chí] cam kết thúc đẩy sự phát triển và lan tỏa tri thức khoa học một cách cởi mở nhất. Để thực hiện sứ mệnh này, tất cả các bài viết được xuất bản trên tạp chí đều được phát hành theo các điều khoản của giấy phép công khai Creative Commons (CC).
Việc áp dụng giấy phép này cho phép tác giả giữ bản quyền đối với tác phẩm của mình, đồng thời trao cho cộng đồng quyền tự do sử dụng, chia sẻ và xây dựng dựa trên tác phẩm đó một cách hợp pháp và rõ ràng, góp phần thúc đẩy tối đa hóa tác động của nghiên cứu.
2. Giới thiệu về Giấy phép Creative Commons (CC)
Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu cung cấp một bộ công cụ pháp lý (giấy phép) tiêu chuẩn, miễn phí để các nhà sáng tạo có thể chia sẻ tác phẩm của mình. Thay vì mô hình "bảo lưu mọi quyền" (All Rights Reserved) truyền thống, giấy phép CC hoạt động theo mô hình "bảo lưu một số quyền" (Some Rights Reserved).
Các giấy phép CC bao gồm các thành tố cốt lõi sau:
-
BY (Ghi công - Attribution): Người dùng phải ghi công (nêu tên) tác giả gốc một cách thích hợp. Đây là điều kiện bắt buộc trong tất cả các giấy phép CC.
-
NC (Phi thương mại - NonCommercial): Người dùng không được sử dụng tác phẩm cho các mục đích thương mại.
-
ND (Không phái sinh - NoDerivatives): Người dùng có thể sao chép và phân phối tác phẩm ở định dạng nguyên bản, nhưng không được phép sửa đổi, phối lại hay tạo ra tác phẩm phái sinh.
-
SA (Chia sẻ tương tự - ShareAlike): Nếu người dùng phối lại, chuyển thể tác phẩm, họ phải phân phối tác phẩm mới của mình dưới cùng một giấy phép với tác phẩm gốc.
3. Các loại giấy phép được áp dụng tại Tạp chí
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch áp dụng loại
Giấy phép Ghi công Creative Commons 4.0 (CC BY 4.0)
Để khuyến khích để tối đa hóa sự phổ biến và sử dụng lại các công trình khoa học.
-
Người dùng được phép:
-
Chia sẻ: Sao chép và phân phối lại tác phẩm trên bất kỳ phương tiện và định dạng nào.
-
Phối lại: Phối lại, chuyển thể và xây dựng dựa trên tác phẩm cho bất kỳ mục đích nào, kể cả mục đích thương mại.
-
-
Với điều kiện:
-
Phải Ghi công (BY): Bạn phải ghi công tác giả một cách thích hợp, cung cấp một đường dẫn tới giấy phép, và cho biết nếu tác phẩm đã có sự thay đổi.
-
4. Trách nhiệm của Tác giả và Người dùng
-
Đối với Tác giả: Khi nộp bản thảo cho Tạp chí [Tên Tạp chí], tác giả đồng ý rằng nếu bài viết được chấp nhận xuất bản, nó sẽ được phát hành theo giấy phép [Ví dụ: CC BY 4.0] mà tạp chí áp dụng. Tác giả vẫn là người giữ bản quyền gốc.
-
Đối với Người dùng: Người dùng có trách nhiệm kiểm tra và tuân thủ các điều khoản của giấy phép được áp dụng cho mỗi bài viết. Việc ghi công tác giả là yêu cầu bắt buộc và cần được thực hiện đúng cách.
Cách ghi công chuẩn:
Khi sử dụng hoặc trích dẫn lại một tác phẩm, bạn nên ghi công như sau:
"[Tên bài viết]" của [Tên các tác giả], được cấp phép dưới [Tên giấy phép, ví dụ: CC BY 4.0]. Nguồn: Tạp chí [Tên Tạp chí], Tập [X], Số [Y], trang [Z], (Năm xuất bản). DOI: [Link DOI của bài báo].