Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ISSN 2815-6366 Truy cập mở Phản biện kín hai chiều
Biểu trưng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Sleep Quality and Associated Factors among General Nursing Students at Pham Ngoc Thach University of Medicine
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch
Pham Ngoc Thach Medical and Pharmaceutical Journal · ISSN 2815-6366
PDF (Vietnamese)

Keywords

Chất lượng giấc ngủ
yếu tố liên quan
sinh viên CNĐD Đa khoa
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

How to Cite

Sleep Quality and Associated Factors among General Nursing Students at Pham Ngoc Thach University of Medicine. (2026). Tạp Chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch, 5(1). https://bsgdtphcm.vn/ojs/index.php/pnt/article/view/267

Abstract

Đặt vấn đề: Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ giấc ngủ kém của sinh viên các trường đại học y khá cao, dao động từ 64,24% - 75,8% [1]. Ở Việt Nam, theo dữ liệu nghiên cứu của Đại học Y Dược TP HCM thì có tới 59,1% sinh viên có giấc ngủ kém [2], còn Đại học Y Dược Huế thì cũng có con số thống kê khá cao là 49,1% [3]. Đây là điều đáng báo động, là sinh viên thuộc khối ngành Sức khoẻ, việc chất lượng giấc ngủ kém sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ, ngoài ra kết quả học tập cũng bị sa sút, từ đó dẫn đến các vấn đề sức khoẻ nguy hiểm khác như: trầm cảm, stress, lo âu,... Do đó nghiên cứu nhằm đánh giá về tình trạng chất lượng giấc ngủ của sinh viên chuyên ngành Điều dưỡng và sự ảnh hưởng đến kết quả học tập, từ đó giúp xác định tỷ lệ của vấn đề nhằm đưa ra giải pháp phù hợp, nhất là với sinh viên Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch – ngôi trường đào tạo ra những bác sĩ, nhân viên y tế trọng điểm của Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 127 SV CNĐD Đa khoa chính quy năm 1 khoá 2024, 142 SV năm 2 khoá 2023, 107 SV năm 3 khoá 2022 và 45 SV năm 4 khoá 2021 Trường ĐH YK PNT năm 2024. Kết quả: Tỷ lệ sinh viên Điều dưỡng đa khoa có chất lượng giấc ngủ kém là 47,5%. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: năm học, sử dụng chất kích thích, áp lực học tập, bạn bè, gia đình và sức khỏe tâm thần (trầm cảm – lo âu – căng thẳng). Kết luận: Tỷ lệ SV CNĐD Đa khoa chính quy có chất lượng giấc ngủ kém là 47,5% thấp hơn tỷ lệ SV CNĐD Đa khoa chính quy có chất lượng giấc ngủ tốt là 52,5%. Các yếu tố như năm học, sử dụng chất kích thích trước khi ngủ, các áp lực về học tập, bạn bè, gia đình, các yếu tố trầm cảm – lo âu – căng thẳng đều có ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ. Abstract Background: Studies worldwide have shown that the prevalence of poor sleep quality among medical university students is considerably high, ranging from 64.24% to 75.8% [1]. In Vietnam, research data from the University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City revealed that up to 59.1% of students experienced poor sleep quality [2], while the figure at Hue University of Medicine and Pharmacy was also relatively high at 49.1% [3]. This is an alarming issue. As students in the health sciences field, poor sleep quality not only affects their physical well-being but also leads to a decline in academic performance, which in turn may contribute to other serious health problems such as depression, stress, and anxiety. Therefore, this study aims to assess the sleep quality of nursing students and its impact on academic outcomes, thereby determining the prevalence of this issue and proposing appropriate solutions, particularly for students at Pham Ngoc Thach University of Medicine — a key institution training physicians and healthcare professionals for Ho Chi Minh City. Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 127 first-year general nursing students (cohort 2024), 142 second-year students (cohort 2023), 107 third-year students (cohort 2022), and 45 fourth-year students (cohort 2021) at Pham Ngoc Thach University of Medicine in 2024. Results: The proportions of general nursing students reporting pressure before examinations, pressure from academic performance, competition with classmates, and family expectations were 77.7%, 76.0%, 26.4%, and 46.6%, respectively, while 34.2% reported using stimulants before sleep. The prevalence of depressive symptoms among general nursing students was relatively high at 48.2%, with severity levels distributed as follows: 20.7% mild, 20.7% moderate, 4.3% severe, and 2.6% extremely severe. The prevalence of anxiety symptoms was 74.3%, with severity levels of 10.5% mild, 29.7% moderate, 17.6% severe, and 16.6% extremely severe. Stress symptoms were also relatively high at 49.6%, including 16.2% mild, 17.6% moderate, 11.9% severe, and 4.0% extremely severe. Conclusions: The prevalence of poor sleep quality among general nursing students was 47.5%, which was lower than the prevalence of good sleep quality at 52.5%. Factors such as academic year, stimulant use before sleep, academic, peer, and family pressures, as well as depression, anxiety, and stress, were all found to affect sleep quality. DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.8
PDF (Vietnamese)

References

Quy định về Giấy phép Công khai cho các Tác phẩm được Xuất bản

 

1. Tuyên bố chung

Tạp chí [Tên Tạp chí] cam kết thúc đẩy sự phát triển và lan tỏa tri thức khoa học một cách cởi mở nhất. Để thực hiện sứ mệnh này, tất cả các bài viết được xuất bản trên tạp chí đều được phát hành theo các điều khoản của giấy phép công khai Creative Commons (CC).

Việc áp dụng giấy phép này cho phép tác giả giữ bản quyền đối với tác phẩm của mình, đồng thời trao cho cộng đồng quyền tự do sử dụng, chia sẻ và xây dựng dựa trên tác phẩm đó một cách hợp pháp và rõ ràng, góp phần thúc đẩy tối đa hóa tác động của nghiên cứu.

2. Giới thiệu về Giấy phép Creative Commons (CC)

Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu cung cấp một bộ công cụ pháp lý (giấy phép) tiêu chuẩn, miễn phí để các nhà sáng tạo có thể chia sẻ tác phẩm của mình. Thay vì mô hình "bảo lưu mọi quyền" (All Rights Reserved) truyền thống, giấy phép CC hoạt động theo mô hình "bảo lưu một số quyền" (Some Rights Reserved).

Các giấy phép CC bao gồm các thành tố cốt lõi sau:

  • BY (Ghi công - Attribution): Người dùng phải ghi công (nêu tên) tác giả gốc một cách thích hợp. Đây là điều kiện bắt buộc trong tất cả các giấy phép CC.

  • NC (Phi thương mại - NonCommercial): Người dùng không được sử dụng tác phẩm cho các mục đích thương mại.

  • ND (Không phái sinh - NoDerivatives): Người dùng có thể sao chép và phân phối tác phẩm ở định dạng nguyên bản, nhưng không được phép sửa đổi, phối lại hay tạo ra tác phẩm phái sinh.

  • SA (Chia sẻ tương tự - ShareAlike): Nếu người dùng phối lại, chuyển thể tác phẩm, họ phải phân phối tác phẩm mới của mình dưới cùng một giấy phép với tác phẩm gốc.

3. Các loại giấy phép được áp dụng tại Tạp chí

Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch  áp dụng loại

Giấy phép Ghi công Creative Commons 4.0 (CC BY 4.0)

Để khuyến khích để tối đa hóa sự phổ biến và sử dụng lại các công trình khoa học.

  • Người dùng được phép:

    • Chia sẻ: Sao chép và phân phối lại tác phẩm trên bất kỳ phương tiện và định dạng nào.

    • Phối lại: Phối lại, chuyển thể và xây dựng dựa trên tác phẩm cho bất kỳ mục đích nào, kể cả mục đích thương mại.

  • Với điều kiện:

    • Phải Ghi công (BY): Bạn phải ghi công tác giả một cách thích hợp, cung cấp một đường dẫn tới giấy phép, và cho biết nếu tác phẩm đã có sự thay đổi.

  •  

4. Trách nhiệm của Tác giả và Người dùng

  • Đối với Tác giả: Khi nộp bản thảo cho Tạp chí [Tên Tạp chí], tác giả đồng ý rằng nếu bài viết được chấp nhận xuất bản, nó sẽ được phát hành theo giấy phép [Ví dụ: CC BY 4.0] mà tạp chí áp dụng. Tác giả vẫn là người giữ bản quyền gốc.

  • Đối với Người dùng: Người dùng có trách nhiệm kiểm tra và tuân thủ các điều khoản của giấy phép được áp dụng cho mỗi bài viết. Việc ghi công tác giả là yêu cầu bắt buộc và cần được thực hiện đúng cách.

Cách ghi công chuẩn:

Khi sử dụng hoặc trích dẫn lại một tác phẩm, bạn nên ghi công như sau:

"[Tên bài viết]" của [Tên các tác giả], được cấp phép dưới [Tên giấy phép, ví dụ: CC BY 4.0]. Nguồn: Tạp chí [Tên Tạp chí], Tập [X], Số [Y], trang [Z], (Năm xuất bản). DOI: [Link DOI của bài báo].