Abstract
Đặt vấn đề: Tại bệnh viện Bình Dân, cắt tuyến tiền liệt tận gốc đã được thực hiện qua mổ mở (từ 1998), nội soi ổ bụng tiêu chuẩn (LRP) (từ 2004) [2]. Từ tháng 11/2016, phẫu thuật nội soi có robot hỗ trợ đã được áp dụng tại bệnh viện. Câu hỏi nghiên cứu: đâu là những thuận lợi / khó khăn cho bác sĩ phẫu thuật / bệnh nhân khi mổ nội soi có robot hỗ trợ so với nội soi ổ bụng (NSOB) trong điều kiện Việt Nam ? Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả, độ an toàn của NSOB có robot hỗ trợ trong điều trị phẫu thuật triệt căn ung thư tuyến tiền liệt (UT TTL) khi so sánh với NSOB tiêu chuẩn. Đối tượng & Phương pháp nghiên cứu: Người bệnh nhập bệnh viện Bình Dân với chẩn đoán UT TTL giai đoạn khu trú (cT1-T2) hoặc xâm lấn vỏ bao hoặc túi tinh (cT3), được cắt tuyến tiền liệt tận gốc bằng nội soi có robot hỗ trợ (RARP)hay bằng NSOB tiêu chuẩn. Nghiên cứu so sánh tiến cứu không ngẫu nhiên so sánh kết quả ngắn hạn (dưới 1 năm) giữa RARP và LRP với thời gian lấy mẫu là từ 01/2019 đến 12/2020. Kết quả: Có 40 bệnh nhân ở mỗi nhóm phẫu thuật. Đặc điểm bệnh nhân trước mổ hai nhóm không khác biệt về: tuổi, bệnh kết hợp, điểm số ASA, điểm số Gleason, PSA máu, cTNM; hai nhóm có khác biệt về: điểm số IIEF-5 (RARP>LRP), BMI (RARP>LRP), Kích thước tuyến tiền liệt (RARP>LRP). Các biến số quanh phẫu thuật: hai nhóm không khác biệt về: chuyển mổ mở, tỉ lệ thực hiện kỹ thuật bảo tồn cổ bàng quang, lượng máu mất, truyền máu quanh phẫu thuật, tai biến trong mổ; hai nhóm có khác biệt về: tỉ lệ mũi khâu Rocco (RARP>LRP), số trường hợp nạo hạch chậu (RARP > LRP), thời gian mổ (RARP<LRP), bờ biên phẫu thuật dương tính (RARP>LRP), số trường hợp bảo tồn bó mạch - thần kinh cương (RARP<LRP). Sau phẫu thuật 2 nhóm không khác biệt về: điểm số Gleason, pTNM, biến chứng sau mổ, thời gian nằm viện sau mổ; hai nhóm có khác biệt về: thời gian lưu ống dẫn lưu (RARP<LRP), điểm số đau sau mổ (RARP < LRP). Theo dõi sau mổ 3 tháng/6 tháng hai nhóm không khác biệt về: biến chứng tiểu không kiểm soát lúc 3 tháng, 6 tháng, số tã dùng trong 24h sau mổ 6 tháng, độ giảm điểm IIEF-5 lúc 3 tháng sau mổ; hai nhóm có khác biệt về biến chứng sau xuất viện < 6 tháng sau mổ (RARP < RLP), có ý nghĩa lâm sàng với LRP có 3 TH biến chứng Clavien III, biến chứng sau mổ sáu tháng - một năm (RARP<RLP) có ý nghĩa lâm sàng với nhóm LRP có 2 TH biến chứng Clavien III, số tã dùng trong 24h lúc 3 tháng sau mổ (RARP<RLP), độ giảm điểm IIEF-5 sau mổ 6 tháng (RARP>LRP), chất lượng cuộc sống 6 tháng sau mổ (nhóm RARP tốt hơn).Kết luận: RARP so sánh với LRP là kỹ thuật mổ an toàn với ít biến chứng hơn, triệt căn hơn với việc cắt bỏ được nhiều hạch chậu hơn, hiệu quả hơn với thời gian mổ ngắn hơn, ít mất máu hơn, thời gian dẫn lưu ngắn hơn, ít đau hơn, chức năng cơ quan bảo tồn tốt hơn về kiểm soát nước tiểu sau mổ. Nó có đường cong học tập ngắn hơn và có chất lượng cuộc sống sau mổ tốt hơn cho bệnh nhân
References

This work is licensed under a Creative Commons Attribution-NonCommercial-NoDerivatives 4.0 International License.
Copyright (c) 2023 tạp chí Y dược Phạm Ngọc Thạch