Abstract
Đặt vấn đề: Tổn thương tế bào hình thoi ác tính của vú hiếm gặp, gồm nhiều thực thể bệnh có diễn tiến, tiên lượng, điều trị khác nhau, nhưng lại chồng lấp nhau về hình ảnh mô bệnh học và biểu hiện hóa mô miễn dịch, do đó gây khó khăn cho chẩn đoán, đặc biệt là trên mẫu sinh thiết nhỏ. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm có thêm hiểu biết về nhóm bệnh ít gặp nhưng phức tạp này. Mục tiêu: Chúng tôi khảo sát sự phân bố của các thực thể bệnh, đặc điểm mô bệnh học và biểu hiện hóa mô miễn dịch nhằm xác lập cách tiếp cận tổn thương tế bào hình thoi ác tính Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca. Gồm 98 trường hợp tổn thương tế bào hình thoi ác tính của tuyến vú được chẩn đoán tại khoa Giải phẫu bệnh, bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh, từ 01/01/2020 đến 31/12/2020. Chúng tôi xem lại tiêu bản, mô tả các đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch. Kết quả: Tổn thương tế bào hình thoi grad cao hai pha chiếm đa số. Có 4,1% trường hợp chưa có chẩn đoán xác định. Tuổi trung bình của các thực thể đều trong khoảng thập niên thứ năm và thứ sáu. Mô bệnh học: Các trường hợp đều có không điển hình nhân từ trung bình đến nặng, mật độ tế bào trung bình đến cao, tỉ lệ thành phần biểu mô thấp đến không có, nhiều phân bào và phân bào bất thường. Hóa mô miễn dịch: 4 trường hợp giúp chẩn đoán xác định carcinôm chuyển sản; 6 trường hợp giúp loại trừ chẩn đoán carcinôm chuyển sản; 1 trường hợp có thực hiện hóa mô miễn dịch nhưng chưa có được chẩn đoán. Tiếp cận tổn thương tế bào hình thoi theo sơ đồ 3 bước: (1) mức độ không điển hình (thấp/cao) của tế bào hình thoi; (2) có – không có thành phần biểu mô (2 pha/1 pha); (3) phân loại dựa trên đặc điểm mô bệnh học và biểu hiện hóa mô miễn dịch. Kết luận: Tiếp cận chẩn đoán tổn thương tế bào hình thoi theo 3 bước. Cần nhuộm hóa mô miễn dịch và/hoặc mẫu phải đủ nhiều để có được chẩn đoán xác định. Abstract Background: Breast malignant spindle cell lesions are uncommon. They encompass a wide spectrum of entities, having great differences in their behavior, outcome and treatment. The morphological features overlapping and aberrant immunohistochemical expressions make accurate diagnosis challenging, especially on core needle biopsy. By this study, we hope to gain some more proper knowledge in this rare and complicated group of breast diseases. Objectives: The rate of each entity was evaluated. Then we analyzed the morphological and immunohistochemical features in order to find out a simplified algorithmic approach to spindle cell lesions of the breast. Materials and Methods: This was a descriptive analysis study of 98 cases of breast spindle cell lesions received over a period of one year from January 2020 to December 2020 in the Department of Pathology, Hochiminh city Oncology Hospital. The morphological characteristics and immunohistochemical expressions were re-evaluated. Results: The majority of cases were belonged to the biphasic high grade spindle cell lesion group. For the rest 4.1% of cases, we were not able to reach a definite diagnosis due to no more tissue sampling and having no immunohistochemical staining. Morphologically: we found out moderate to severe atypical nuclear features, moderate to heavy cellularity of the spindle cell component in almost all cases. High mitotic index and abnormal mitotic activities were not uncommon. Immunohistochemically: 4 cases were indicated for the diagnosis of metaplastic carcinoma; 6 cases were excluded the diagnosis of metaplastic carcinoma; we could not have a definite diagnosis in 1 case even with a panel of immunohistochemical epithelial and stromal markers. We proposed a 3 steps algorithmic approach to malignant spindle cell lesions based on the degree of nuclear atypia of spindle component, the presence of epithelial component, the morphological features supported by immunohistochemical staining. Conclusions: We proposed a three-steps approach for diagnosing malignant spindle cell lesions. Immunostaining and/or sampling throughoutly the tumor were very useful for a definite diagnosis.References
Quy định về Giấy phép Công khai cho các Tác phẩm được Xuất bản
1. Tuyên bố chung
Tạp chí [Tên Tạp chí] cam kết thúc đẩy sự phát triển và lan tỏa tri thức khoa học một cách cởi mở nhất. Để thực hiện sứ mệnh này, tất cả các bài viết được xuất bản trên tạp chí đều được phát hành theo các điều khoản của giấy phép công khai Creative Commons (CC).
Việc áp dụng giấy phép này cho phép tác giả giữ bản quyền đối với tác phẩm của mình, đồng thời trao cho cộng đồng quyền tự do sử dụng, chia sẻ và xây dựng dựa trên tác phẩm đó một cách hợp pháp và rõ ràng, góp phần thúc đẩy tối đa hóa tác động của nghiên cứu.
2. Giới thiệu về Giấy phép Creative Commons (CC)
Creative Commons là một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu cung cấp một bộ công cụ pháp lý (giấy phép) tiêu chuẩn, miễn phí để các nhà sáng tạo có thể chia sẻ tác phẩm của mình. Thay vì mô hình "bảo lưu mọi quyền" (All Rights Reserved) truyền thống, giấy phép CC hoạt động theo mô hình "bảo lưu một số quyền" (Some Rights Reserved).
Các giấy phép CC bao gồm các thành tố cốt lõi sau:
-
BY (Ghi công - Attribution): Người dùng phải ghi công (nêu tên) tác giả gốc một cách thích hợp. Đây là điều kiện bắt buộc trong tất cả các giấy phép CC.
-
NC (Phi thương mại - NonCommercial): Người dùng không được sử dụng tác phẩm cho các mục đích thương mại.
-
ND (Không phái sinh - NoDerivatives): Người dùng có thể sao chép và phân phối tác phẩm ở định dạng nguyên bản, nhưng không được phép sửa đổi, phối lại hay tạo ra tác phẩm phái sinh.
-
SA (Chia sẻ tương tự - ShareAlike): Nếu người dùng phối lại, chuyển thể tác phẩm, họ phải phân phối tác phẩm mới của mình dưới cùng một giấy phép với tác phẩm gốc.
3. Các loại giấy phép được áp dụng tại Tạp chí
Tạp chí Y dược học Phạm Ngọc Thạch áp dụng loại
Giấy phép Ghi công Creative Commons 4.0 (CC BY 4.0)
Để khuyến khích để tối đa hóa sự phổ biến và sử dụng lại các công trình khoa học.
-
Người dùng được phép:
-
Chia sẻ: Sao chép và phân phối lại tác phẩm trên bất kỳ phương tiện và định dạng nào.
-
Phối lại: Phối lại, chuyển thể và xây dựng dựa trên tác phẩm cho bất kỳ mục đích nào, kể cả mục đích thương mại.
-
-
Với điều kiện:
-
Phải Ghi công (BY): Bạn phải ghi công tác giả một cách thích hợp, cung cấp một đường dẫn tới giấy phép, và cho biết nếu tác phẩm đã có sự thay đổi.
-
4. Trách nhiệm của Tác giả và Người dùng
-
Đối với Tác giả: Khi nộp bản thảo cho Tạp chí [Tên Tạp chí], tác giả đồng ý rằng nếu bài viết được chấp nhận xuất bản, nó sẽ được phát hành theo giấy phép [Ví dụ: CC BY 4.0] mà tạp chí áp dụng. Tác giả vẫn là người giữ bản quyền gốc.
-
Đối với Người dùng: Người dùng có trách nhiệm kiểm tra và tuân thủ các điều khoản của giấy phép được áp dụng cho mỗi bài viết. Việc ghi công tác giả là yêu cầu bắt buộc và cần được thực hiện đúng cách.
Cách ghi công chuẩn:
Khi sử dụng hoặc trích dẫn lại một tác phẩm, bạn nên ghi công như sau:
"[Tên bài viết]" của [Tên các tác giả], được cấp phép dưới [Tên giấy phép, ví dụ: CC BY 4.0]. Nguồn: Tạp chí [Tên Tạp chí], Tập [X], Số [Y], trang [Z], (Năm xuất bản). DOI: [Link DOI của bài báo].